vanban.org

Bản án 03/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Bình Tuyên án 25/01/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/01/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giao Ủy ban nhân dân xã Xuân Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục bị cáo Trần Văn V trong thời gian thử thách án treo.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Các quyết định khác của Bản á… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn V phạm tội 'Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đ…"
  • Tòa quyết gì? Giao Ủy ban nhân dân xã Xuân Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục bị cáo Trần Văn V trong thời gian thử thách án treo.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG BÌNH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2021/HS-PT
Ngày: 25-01-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢ NG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Quảng Lực

Các Thẩm phán: Ông Trần Hữu Sỹ

Ông Nguyễn Thái Sơn

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thi ̣ My Hạnh – Thư kỹ

́ Toà án nhân dân tinh Quả

̉ng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tinh Quảng Binh tham gia phiên tòa:

̉

̀ Bà Cao Thị Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 25/01/2021, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Q uảng Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 123/2020/TLPT-HS ngày 24 tháng 12 năm 2020 đối với các bị cáo Trần Viết L và Trần Văn V , do có kháng cáo của bị cáo Trần Văn V đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 37/2020/HS-ST ngày 13 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyê ̣n Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

Bị cáo Trần Văn V , sinh ngày 11/10/1996; nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiê ̣n nay : Thôn P, xã X, huyê ̣n Q, tỉnh Quảng Binh; nghề nghiê ̣p: Lao động tự do ; trình độ học

̀

vấn: 12/12; dân tô ̣c: Kinh; giớ i tinh: Nam; tôn giáo: Không; quốc ti ̣ch: Viê ̣t Nam; con

́ bà Trần Thị L; vợ con chưa có ; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên toà phúc thẩm.

Ngoài ra trong vụ án còn có bị cáo Trần Viết L nhưng không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị;

Các bị hại:

1. Anh Phạm Ngọc T, địa chỉ: Thôn P, xã D, huyện Q, tỉnh Quảng Bình;

2. Anh Hồ Văn L, địa chỉ: B, xã T, huyện Q, tỉnh Quảng Bình.

Những người làm chứng:

1. Anh Trần Viết S, địa chỉ: Thôn P, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình;

2. Anh Trần Minh T, địa chỉ: Thôn P, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình;

3. Anh Nguyễn Quang H, địa chỉ: Thôn P, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình;

4. Anh Trương Văn P, địa chỉ: Thôn P, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình.

Xét thấy bị cáo Trần Viết L, các bị hại và những người làm chứng không liên quan đến việc xem xét kháng cáo của bị cáo Trần Văn V nên cấp phúc thẩm không triệu tập đến phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 13/6/2020, sau khi ăn nhâ ̣u ta ̣i nhà của minh ở thôn

̀ Thôn P, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, Trần Viết L cùng với Trần Văn V đi ra phia

́ ngã tư thôn P , xã X, đoa ̣n gần Công ty Nam Trườ ng Xuân để ngồi hóng mát . Lúc này, anh Pha ̣m Ngo ̣c T ở thôn Ph, xã D điều khiển xe mô tô BKS 73G1-245.12 chở theo anh Hồ Văn L đi từ trụ sở Công an xa Xuân Ninh đến thôn L, xã X. Khi thẫ

́y anh T chở anh L đi qua thi Trần Văn V gọi “ê, lại đây chơi”. Nghe tiếng V gọi, anh T quay la ̣i chỗ L

̀ và V đang ngồi và nói “bây kêu anh à”. L liền trả lời “ dạ em kêu”. Anh T hỏi tiếp “kêu anh có viê ̣c chi à”, L trả lời “em kêu lại cho vui rứa” . L và anh T nói qua lại một lúc thì L lao vào dùng tay đấm vào mă ̣t anh T làm anh T bị rách da, chảy máu vùng lông mày trái. Thấy L đánh anh T thì V cũng lao vào dùng tay đấm anh T , làm anh T bị thương tích ở cằm trái. Bị L và V đánh, anh T bỏ chạy, L và V liền đuổi theo nhưng không đuổi kịp, liền quay la ̣i dùng tay , chân đấm, đá vào ngườ i anh L . L còn dùng mũ bảo hiểm ném trúng vào người anh L làm anh L bị thương tích ở vùng đầu , gò má và sau lưng . Sau khi được mô ̣t số ngườ i dân can ngăn, L và V bỏ đi còn anh T và anh L được đưa đi sơ cứ u và nhâ ̣p viê ̣n Bê ̣nh viê ̣n đa khoa huyê ̣n Quảng Ninh để điều tri ̣.

Ngày 14/6/2020, anh Pha ̣m Ngo ̣c T và anh Hồ Văn L có đơn yêu cầu giám định thương tich và yêu cầu khở i tố vu ̣ án hình sự.

́

Ngày 14/6/2020, Cơ quan điều tra đa ra Quyết đi ̣̃

nh trưng cầu giám đi ̣nh tỷ lê ̣ thương tich của anh Hồ Văn L và anh Phạm Ngọc T.

́

Ngày 15/6/2020, Trung tâm giám đi ̣nh y khoa – pháp y tỉnh Quảng Bình kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại đối với anh Hồ Văn L là 0% (không phần trăm) và tỷ lệ thương tích gây nên hiện tại đối với anh Phạm Ngọc T là 3% (ba phần trăm).

Ngày 02/7/2020, Cơ quan điều tra đa ra Quyết đi ̣̃

nh trưng cầu giám đi ̣nh bổ sung tỷ lệ thương tích đối với thương tích của anh Hồ Văn L và Phạm Ngọc T.

Ngày 09/7/2020, Trung tâm giám đ ịnh y khoa – pháp y tỉnh Quảng Bình có Kết luâ ̣n giám đi ̣nh tỷ lê ̣ tổn thương cơ thể do thương tich gây nên hiê ̣n ta ̣ i đối vớ i anh Hồ

́ Văn L là 1% và đối với anh Phạm Ngọc T là 3%.

Ngày 24/8/2020, Cơ quan điều tra đa ta ̣̃ m giữ từ Công an xa Xu ân Ninh một mũ̃ bảo hiểm nhãn hiệu ASIA, màu tím than, đa qua sữ

̉ du ̣ng (là tài sản của anh Hồ Văn L). Ngày 28/8/2020, Cơ quan điều tra đa trã ̉ la ̣i mô ̣t mũ bảo hiểm nhan hiê ̣̃

u ASIA cho anh Hồ Văn L là chủ sở hữu.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Pha ̣m Ngo ̣c T và anh Hồ Văn L không yêu cầu bồi thườ ng dân sự, nên không xem xét giải quyết.

Bản cáo trạng số 37/CT-VKS ngày 07/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyê ̣n Quảng Ninh truy tố các bị cáo Trần Viết L và Trần Văn V về tô ̣i “Cố ý gây thương tich”

́ theo quy đi ̣nh ta ̣i điểm i khoản 1 Điều 134 Bô ̣ luâ ̣t Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 37/2020/HS-ST ngày 13/11/2020 của Toà án nhân dân huyê ̣n Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình đa quyết đi ̣̃

nh:

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, điểm g khoản 2 Điều 260, khoản 1 Điều 268; khoản 1 Điều 269; khoản 1 Điều 298; khoản 1 Điều 331; Điều 333 của Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng Hinh sự, tuyên bố các bi ̣ cáo Trần Viết L và Trần Văn V phạm tội Cố ý gây

̀ thương tich.

́

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 134, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bô ̣ luâ ̣t Hinh

̀ sự, xử pha ̣t bi ̣ cáo Trần Viết L 06 (sáu) tháng tù, thờ i ha ̣n chấp hành hinh pha ̣t tù tinh từ

̀

́ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 14/6/2020.

Căn cứ điểm i , khoản 1 Điều 134, điểm i , s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bô ̣ luâ ̣t Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn V 06 (sáu) tháng tù, thờ i ha ̣n chấp hà nh hinh pha ̣t tù

̀ tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo của các bị cáo.

Trong ha ̣n luâ ̣t đi ̣nh , ngày 17/11/2020, bị cáo Trần Văn V có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do b ị cáo là một đoàn viên thanh niên luôn tích cực trong công tác Đoàn; trong trâ ̣n lũ lu ̣t vừ a qua bi ̣ cáo xung phong đi cứ u hô ̣ , phát thực phẩm cho bà con ; chưa có tiền án , tiền sự; luôn chấp hành chinh sách pháp luật của Nhà

́ nướ c; bị cáo đã thực sự nhận ra khuyết điểm, ăn năn hối cải ; bị cáo là lao động chính trong gia đinh, mẹ bị cáo không có người chăm sóc.

̀

Tại phiên toà phúc thẩm , đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân t ỉnh Quảng Bình phát biểu quan điểm giải quyết vu ̣ án , đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm, vì án sơ thẩm xử phạt bị cáo Trần Văn V 06 tháng tù là phù hợp, tại phiên tòa phúc thẩm không có tình tiết gì mới.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Nội dung vụ án mà bản án sơ thẩm đã xác định hoàn toàn phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của bị cáo Trần Văn V tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận hành vi phạm tội mà bị cáo Trần Văn V đã thực hiện đúng như xác định của Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh và tại phần nội dung vụ án của Bản án phúc thẩm này.

. So với các anh Phạm Ngọc T và Hồ Văn L thì các bị cáo Trần Viết L và Trần Văn V là những người nhỏ tuổi hơn, L và V đều sinh năm 1996, còn anh Phạm Ngọc T sinh năm 1986, anh Hồ Văn L sinh năm 1988. Tuy vậy, Long và Vương đã có hành vi vô cớ chọc ghẹo các anh Phạm Ngọc T và Hồ Văn L khi hai anh đi qua xã Xuân Ninh, nơi các bị cáo sinh sống. Khi các anh T và L đến nói chuyện phải trái, đúng sai với L và V, thì L và V không những không thấy được sai trái của mình, lại còn đánh hai anh, gây thương tích cho anh T và anh L với tỷ lệ tổn thương cơ thể lần lượt là 3% và 1%. Hành vi trên của các bị cáo thể hiện tính côn đồ, do đó tuy các bị hại chỉ bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể ở mức rất thấp là 1% và 3% nhưng án sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật, đồng thời tuyên phạt mức án 06 tháng tù đối với bị cáo V là không nặng.

. Bị cáo Trần Văn V tham gia vụ án với vai trò có phần ít tích cực hơn so với Trần Viết Long, cụ thể thực hiện việc đánh các anh Phạm Ngọc T và Hồ Văn L sau khi thấy Trần Viết L đánh các anh này trước và trong quá trình đuổi đánh hai anh, Trần Văn V chỉ dùng tay, chân để đấm, đá mà không dùng các loại hung khí hoặc vật dụng khác. Thương tích của các bị hại đều ở mức độ rất nhẹ. Bị cáo có nhân thân tốt, có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại các điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, người bị hại anh Phạm Ngọc T tại phiên tòa sơ thẩm xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo và bị cáo là người phải chịu thiệt thòi, lớn lên không có sự chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục của người cha, hiện phải chăm sóc mẹ đơn thân không còn sức lao động. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Do đó thấy rằng buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù là không cần thiết; có thể thỏa mãn kháng cáo của bị cáo sửa án sơ thẩm, cho bị cáo Trần Văn V được hưởng án treo nhằm thể hiện sự nhân đạo của pháp luật, mặt khác vẫn đảm bảo tính răn đe, giáo dục chung.

. Các nội dung khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị cần được giữ nguyên.

. Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận, nên căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, không buộc bị cáo Trần Văn V phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b, khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa án sơ thẩm như sau:

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 134; các điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, phạt bị cáo Trần Văn V 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (25/01/2021) về tội “Cố ý gây thương tích”.

Giao Ủy ban nhân dân xã Xuân Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục bị cáo Trần Văn V trong thời gian thử thách án treo. Trong trường hợp bị cáo Trần Văn V thay đổi nơi cư trú, Ủy ban nhân dân xã Xuân Ninh thực hiện việc thông báo theo quy định khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Văn V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, nhưng không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (25/01/2021).

Cỡ chữ