vanban.org

Bản án 03/2021/HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phương Thị Thúy H

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phương Thị Thúy H được ly hôn anh Phạm Văn Nam. Về con chung: Giao cháu Phạm Thảo V, sinh ngày 10/8/2019 cho chị Phương Thị Thúy H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi) lao động tự túc được. Anh Phạm Văn Nam có quyền đi lại thăm nom … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phương Thị Thuy H - Phạm Văn N"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phương Thị Thúy H
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TAND HUYỆN ĐỊNH HÓA
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 26/02/2021.
“V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HOÁ, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Thiện Hoàng.

Các hội thâm nhân dân: 1/ Bà Lương Thị Bông.

2/ Bà Mai Thị Cẩm Hoa.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thành Huế - Thư ký Toà án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái nguyên tham gia phiên tòa: Ông Đinh Khánh Luyện - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2021. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái nguyên. Tòa án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên, mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số:146/2020/TLST - HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2020 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con". Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2021/QĐXX - HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phương Thị Thúy H - sinh năm 2000.

HKTT: Xóm HT, xã BN, huyện Đ, Thái Nguyên.

Nơi ở hiện nay: Thôn ĐK, xã PĐ, huyện Đ tỉnh Thái Nguyên

(Có mặt tại phiên tòa)

2. Bị đơn: Anh Phạm Văn Nam , sinh năm 1994.

Địa chỉ: Xóm HT, xã BN, huyện Đ, Thái Nguyên.

(Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn, quá trình tố tụng giải quyết vụ án và tại phiên tòa ngày hôm nay nguyên đơn chị Phương Thị Thúy H trình bày:

Chị và anh Phạm Văn Nam kết hôn ngày 03/12/2018, đăng ký kết hôn tại UBND xã PĐ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Trước khi kết hôn, chị và anh Nam có tìm hiểu nhau khoảng gần một năm, được sự đồng ý của hai gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương.Sau khi kết hôn chị về ở chung với gia đình nhà chồng. Cuộc sống vợ chồng có thời gian đầu chung sống hòa thuận, hạnh phúc, nhưng mâu thuẫn bắt đầu sảy ra vào tháng 8 năm 2019. Nguyên nhân là do anh Nam thường xuyên đi chơi về muộn có đêm không về, con nhỏ không trông nom, chăm sóc, chị và gia đình đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng anh Nam không nghe còn thường nói chị tiêu tiền của anh dẫn đến anh chị thường xuyên to tiếng, cãi cọ nhau. Đầu năm 2020 anh Nam đã chốt cửa phòng cầm dao đe dọa chị, chửi mắng và có những lời nói xúc phạm chị. Từ ngày 25 tháng 9 năm 2020 chị đã đưa con về nhà bố mẹ đẻ tại xóm ĐK, xã PĐ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên sống, nhưng chỉ được mấy ngày, đến ngày 30/9/2020 anh Nam đã lên đón con về dù con anh chị vẫn còn bé đang bú sữa mẹ. Chị không dám về thăm con vì sợ anh Nam đe dọa, anh chị sống ly thân từ đó đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ngày hôm nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị cương quyết xin được ly hôn anh Nam.

- Về con chung: Chị H xác định vợ chồng có 01 con chung là Phạm Thảo V, sinh ngày 10/8/2019. Hiện anh Nam đã đón về ở với anh Nam tại xã BN, huyện Đ. Khi ly hôn, chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung, không yêu cầu anh Nam cấp dưỡng nuôi con. Vì chị H hiện đang làm lao động tự do tại địa phương, có mức thu nhập khoảng 5.000.000 đồng đến 6.000.000đồng/01 tháng và có nơi ở ổn định.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa ngày hôm nay anh Nam vắng mặt, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Phạm Văn Nam trình bày:

Anh và chị H kết hôn ngày 03/12/2018, đăng ký kết hôn tại UBND xã PĐ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Trước khi kết hôn, anh và chị H có tìm hiểu nhau khoảng gần một năm, được sự đồng ý của hai gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Thời gian đầu anh, chị chung sống hạnh phúc. Mâu thuẫn sảy ra từ khoảng giữa năm 2019, nguyên nhân mâu thuẫn chỉ là xích mích cuộc sống hàng ngày, giận dỗi nhau. Anh Nam đi làm vật vả về chị H ít quan tâm còn tỏ thái độ khó chịu với anh. Anh đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng chị H không thay đổi tính cách. Đến tháng 9 năm 2020 chị H đưa con về nhà bố mẹ đẻ tại xã PĐ, huyện Đ. Sau mấy hôm anh đã lên đón hai mẹ con chị H về nhưng chị H không về nên anh đã đón con của anh chị về. Anh, chị sống ly thân từ đó đến nay. Nay chị H xin ly hôn anh không nhất trí, mà muốn chị H nghĩ lại để anh chị đoàn tụ cùng nhau nuôi dậy con chung.

- Về con chung: Anh Nam xác định vợ chồng có 01 con chung là Phạm Thảo V, sinh ngày 10/8/2019 hiện đang chung sống cùng anh tại xã BN. Nếu ly hôn anh xin được nuôi con chung, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Vì hiện anh là lao động tự do có thu nhập và nơi ở ổn định.

- Về tài sản chung, nợ chung: Anh xác định không có tài sản chung, nợ chung. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trước khi nghị án, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân theo pháp luật tố tụng, bị đơn đã vắng mặt tại phiên tòa, việc cấp giao tống đạt văn bản tố tụng, việc xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ, thủ tục tố tụng, thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự đảm bảo đúng quy định của pháp luật;

- Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu của chị H, cho được ly hôn anh Nam; Về con chung: Căn cứ khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 giao chị H nuôi con chung, về cấp dưỡng nuôi con chị H không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: Chị H và anh Nam không yêu cầu Tòa án giải quyết, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Án phí dân sự sơ thẩm chị H phải nộp theo quy định của pháp luật;

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo bản án.

Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã tiến hành hòa giải vợ chồng về đoàn tụ nhưng không thành. Vì vậy vụ án được đưa ra xét xử công khai ngày hôm nay.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Tòa án nhận định:

- Về tố tụng: Đây là vụ án về ly hôn và tranh chấp về nuôi con. Bị đơn có nơi cư trú tại huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên theo quy định tại các Điều 28, 35 và 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt nhưng đã được Tòa án thực hiện đầy đủ các thủ tục đúng tố tụng, đúng pháp luật vì vậy Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử vắng mặt bị đơn tại phiên tòa đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ bằng biện pháp xác minh,lấy lời khai của đương sự. Tại phiên tòa sơ thẩm ngày hôm nay có sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân theo khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự là phù hợp, đúng quy định của pháp luật.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phương Thị Thúy H và anh Phạm Văn Nam kết hôn trên cơ sở tự nguyên, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Đây là hôn nhân hợp pháp.

- Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Phương Thị Thúy H nhận thấy: Quá trình chung sống, giữa chị H và anh Nam nảy sinh nhiều mâu thuẫn, chị H và anh Nam thường xuyên xảy ra cãi cọ, mâu thuẫn, xúc phạm, xô sát lẫn nhau, dẫn đến chị H và anh Nam đã sống ly thân từ tháng 9 năm 2020 đến nay. Nay anh, chị không còn quan tâm đến nhau nữa dẫn đến việc chị H xin ly hôn. Trong quá trình giải quyết vụ án anh Nam không đồng ý ly hôn mà có mong muốn được hòa giải hai vợ chồng đoàn tụ, nhưng anh không có biện pháp gì để giải quyết mâu thuẫn giữa hai anh chị. Điều đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, yêu cầu xin ky hôn của chị H là có căn cứ, đúng thực tế cần được chấp nhận

- Xét về yêu cầu xin nuôi con của chị Phương Thị Thúy H. Hội đồng xét xử nhận thấy: Chị H và anh Nam có một con chung là Phạm Thảo V, sinh ngày 10/8/2019.

Quá trình giải quyết tại Tòa án chị H và anh Nam đều xin được nuôi con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Tại phiên tòa ngày hôm nay chị H vẫn cương quyết xin được nuôi con chung và không yêu cầu anh Nam cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, chị H có thu nhập và nơi ở ổn định. Ngoài ra con anh, chị còn nhỏ cần có sự chăm sóc, giáo dục của người phụ nữ, đặc biệt là của người mẹ sẽ thuận lợi hơn và căn cứ khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Do vậy, cần giao con chung là cháu Phạm Thảo V, sinh ngày 10/8/2019 cho chị Phương Thị Thúy H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp và đúng quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị H, anh Nam đều xác định không có, không yêu cầu Toà án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; 39; 147; 228; 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 9, Điều 51, 56, 58, 81, 82, và 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phương Thị Thúy H

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phương Thị Thúy H được ly hôn anh Phạm Văn Nam.

2. Về con chung: Giao cháu Phạm Thảo V, sinh ngày 10/8/2019 cho chị Phương Thị Thúy H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi) lao động tự túc được. Anh Phạm Văn Nam có quyền đi lại thăm nom mà không ai được cản trở

Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Nam do chị H tự nguyện không yêu cầu.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Phương Thị Thúy H và anh Phạm Văn Nam xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.

4.Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Phương Thị Thúy H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm sũng quỹ Nhà nước. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005169 ngày 30 tháng 10 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt bị đơn tại phiên tòa, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ