- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Lưu Thị T đối với ông Trần Hoàng V. Bà T được ly hôn ông V.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU _________________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2021/HNGĐ-ST Ngày: 12-01-2022 Về việc: “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ BỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà : Bà Đinh Thị Hồng Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Trường
Ông Nguyễn Văn Hải
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Khuất Cao Hoàng, Thư ký Tòa án nhân
dân thành phố Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà
Trần Thị Hiên – Kiểm sát viên
Ngày 12 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân Tp.Vũng Tàu, xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 710/2021/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2021 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2021/QĐXXST-HN ngày 06 tháng 12 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 85/2021/QĐST-HPT ngày 22 tháng 12 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lưu Thị T, sinh năm 1989 (có đơn xin giải quyết vắng mặt)
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Đường A, phường B, thành phố C, tỉnh D.
- Bị đơn: Ông Trần Hoàng V, sinh năm 1988 (vắng mặt tại phiên tòa)
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Đường K, phường B, thành phố C, tỉnh D.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 28/6/2021, trong bản tự khai và quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn bà Lưu Thị T trình bày:
Bà và ông Trần Hoàng V kết hôn ngày 24/10/2014 tại Ủy ban nhân dân Phường 5, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Việc kết hôn dựa trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc, lừa dối. Thời gian đầu ông bà sống với nhau hạnh phúc và tháng 5 năm 2015 cháu Trần Hoàng A được sinh ra. Tháng 1/2017, bà và ông V chuyển đến thành phố Nha Trang sinh sống và làm việc. Tháng 9 năm 2018, ông V chuyển công tác ra đảo Phú Quốc, bà ở lại Nha Trang sống một mình trong suốt thời gian mang thai cháu Trần Hoàng K. Mâu thuẫn trong cuộc sống đã tích lũy từ thời gian đầu chung sống cho đến tháng 9/2018 ông bà quyết định ly thân.
Ông bà đã nhiều lần tìm cách hòa giải nhưng không được. Tình trạng ngày càng trầm trọng và không thể hòa hợp với nhau trên mọi phương diện cuộc sống. Nên bà nhận thấy không thể tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân, việc tiếp tục chung sống chỉ làm khổ hai người và ảnh hưởng đến tinh thần con cái. Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Hoàng V.
- Về con chung: Bà và ông V có 02 con chung là Trần Hoàng A, sinh ngày 30/5/2015 và Trần Hoàng K, sinh ngày 30/5/2019. Tại đơn khởi kiện bà yêu cầu được nuôi hai con chung và yêu cầu ông V cấp dưỡng 2.000.000đ (Hai triệu đồng)/con/tháng cho đến khi con chung được 18 tuổi. Sau đó, bà đã thay đổi yêu cầu khởi kiện, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn ông Trần Hoàng V: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu đã tống đạt, niêm yết hợp lệ văn bản Thông báo về việc thụ lý vụ án, các Thông báo về mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Giấy triệu tập, biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị đơn ông Trần Hoàng V đến Tòa án để làm việc. Tuy nhiên, ông V đều vắng mặt không có lý do và không thể hiện ý kiến gì về việc giải quyết vụ án.
Ngày 05-12-2021, bà T có đơn xin xử vắng mặt tại phiên tòa và có quan điểm giữ nguyên yêu cầu như đã thể hiện trong quá trình giải quyết vụ án.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu phát biểu ý kiến:
+ Về tố tụng: Tòa án đã tiến hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc thụ lý vụ án, lấy lời khai, thu thập chứng cứ, công khai chứng cứ, tống đạt các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng, chuyển hồ sơ sang Viện kiểm sát đúng quy định, đảm bảo thời hạn xét xử. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không chấp hành đúng quy 3 định tại các Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không có lời khai gửi Toà án và không đến Toà án giải quyết vì vậy Toà án không lấy được lời khai của ông V và không tiến hành hoà giải được vụ án ly hôn. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện và xét xử theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định pháp luật.
+ Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lưu Thị T. Về con chung, giao 02 con chung cho bà T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, bà T không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét. Về tài sản chung, và nợ chung, bà T xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét. Về án phí, bà T phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Lưu Thị T yêu cầu ly hôn với ông Trần Hoàng V có địa chỉ cư trú tại 195/12/9 Trần Phú, Phường 8, thành phố Vũng Tàu do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Lưu Thị T có đơn xin xử vắng mặt, ông Trần Hoàng V được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
. Về nội dung:
. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lưu Thị T và ông Trần Hoàng V chung sống có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên là hôn nhân hợp pháp.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà T xác định ông V không quan tâm đến vợ con, bỏ mặc cho bà lo lắng về chuyện kinh tế, nuôi dạy con cái, không làm tròn trách nhiệm của người chồng và người cha. Hai bên không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng nhưng ông V không có ý kiến và đều vắng mặt không lý do. Qua đó thể hiện ông V không thiện chí trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng, thiếu ý thức, trách nhiệm xây dựng cuộc sống gia đình. Như vậy, có cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng bà T và ông V đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân không thể tồn tại kéo dài nên yêu cầu xin ly hôn của bà T đối với ông V là hoàn toàn có cơ sở để chấp nhận.
. Về con chung: Bà T và ông V có 02 con chung là Trần Hoàng A, sinh ngày 30/5/2015 và Trần Hoàng K, sinh ngày 30/5/2019. Bà T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi hai con chung và không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy hiện nay bà T đang nhân viên Marketting của khách sạn Novotel Phú Quốc, thu nhập 29.000.000đ/tháng. Hiện nay cháu A và cháu K đang được bà T trực tiếp chăm sóc. Vì vậy, nguyện vọng được nuôi con của bà T là chính đáng. Ông V không có ý kiến gì về việc nuôi con. Do vậy, Hội đồng xét xử giao con chung cho bà T tiếp tục trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho các cháu là phù hợp với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Bà T không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về tài sản chung và nợ chung: Bà T và ông V không yêu cầu xem xét nên Hội đồng xét xử không đề cập để giải quyết.
. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội bà T phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 70; Điều 72; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 207; khoản 1 Điều 220; Điều 238; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 19; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; khoản 2 Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và điểm 1.1 phần II mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.
TUYÊN XỬ:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Lưu Thị T đối với ông Trần Hoàng V. Bà T được ly hôn ông V.
2. Về con chung: Bà T và ông V có 02 con chung là Trần Hoàng A, sinh ngày 30/5/2015 và Trần Hoàng K, sinh ngày 30/5/2019. Giao hai con chung cho bà T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ tuổi trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Bà Lưu Thị T không yêu cầu ông Trần Hoàng V cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét, giải quyết.
Ông Trần Hoàng V có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
Trên cơ sở lợi ích của con chung, trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 điều 84 Luật Hôn nhân gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lưu Thị T và ông Trần Hoàng V không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: Bà Lưu Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm được khấu trừ vào 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001318 ngày 29 tháng 10 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu. Bà T đã nộp đủ án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Bà Lưu Thị T và ông Trần Hoàng V được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7A, 7B và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh BR-VT; - Viện kiểm sát ND TP. Vũng Tàu; - Thi hành án Dân sự TP VũngTàu; - UBND Phường 5, TP Vũng Tàu; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Đinh Thị Hồng Hà |