vanban.org

Bản án 03/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là anh Lê Văn Q:

Xác nhận anh Lê Văn Q, sinh ngày 12/9/1990 và cháu Lê Quỳnh Bảo H, sinh ngày 11/5/2020 có quan hệ huyết thống cha - con. Về án phí: Anh Lê Văn Q phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xác nhận con cho cha"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là anh Lê Văn Q:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN K
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2021/HNGĐ-ST
Ngày 29-01-2021
V/v xác nhận con cho cha

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN K, THÀNH PHỐ H

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Văn Hóa

Ông Vũ Văn Lẫy

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Tâm - Thư ký Toà án nhân dân quận K, thành phố H.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận K, thành phố H tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Đô - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân quận K, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 217/2020/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2020, về việc xác nhận con cho cha, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1452/2020/QĐXXST- HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2021/QĐST-HNGĐ ngày 14/01/2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lê Văn Q, địa chỉ: Tổ L 1, phường Q, quận K, thành phố H; có mặt.

- Bị đơn: Chị Phạm Thị H, địa chỉ: Tổ L 1, phường Q, quận K, thành phố H; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Vũ Văn H, địa chỉ: Tổ L, phường Đ, quận K, thành phố H; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 21/7/2020, các bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn là anh Lê Văn Q trình bày:

Năm 2019, anh Lê Văn Q và chị Phạm Thị H có qua lại tìm hiểu và sống chung như vợ chồng trong thời gian chị H sống ly thân với chồng là anh Vũ Văn H..

Ngày 04/10/2019, chị Phạm Thị H và anh Vũ Văn H đã được Tòa án nhân dân quận K, thành phố H giải quyết cho ly hôn theo bản án số 29/2019/HNGĐ-ST ngày 04/10/2019.

Khi chị H và anh H ly hôn thì chị H đang mang thai con chung của anh Q và chị H khoảng 02 tháng.

Ngày 11/5/2020 chị Phạm Thị H sinh con là Lê Quỳnh Bảo H.

Tính đến ngày chị H sinh con là Lê Quỳnh Bảo H thì anh H và chị H mới ly hôn được 7 tháng 7 ngày, con được sinh ra vẫn xác định là sinh trong thời kỳ hôn nhân giữa chị H với anh H nên chưa làm được giấy khai sinh cho cháu Bảo H. Nay anh Q đề nghị Tòa án công nhận cháu Lê Quỳnh Bảo H là con của anh Lê Văn Q.

Tại Bản tự trình bày ngày 27/11/2020 và tại phiên tòa, bị đơn là chị Phạm Thị H trình bày:

Năm 2019, chị Phạm Thị H và anh Lê Văn Q có qua lại tìm hiểu và sống chung như vợ chồng trong thời gian chị H sống ly thân với chồng là anh Vũ Văn H (Trú tại: Nhà số 111 L, tổ L, phường Đ, quận K, thành phố H).

Ngày 04/10/2019, chị H và anh Vũ Văn H đã được Tòa án nhân dân quận K, thành phố H giải quyết cho ly hôn theo bản án số 29/2019/HNGĐ-ST ngày 04/10/2019. Khi chị H và anh H ly hôn thì chị H đang mang thai con chung của anh Q và chị H được khoảng 2 tháng; khi ly hôn anh H chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc nuôi dưỡng đối với con chưa được sinh ra . Ngày 11/5/2020 chị H sinh con là Lê Quỳnh Bảo H. Tính đến ngày chị H sinh con là Lê Quỳnh Bảo H thì anh H và chị H mới ly hôn được 7 tháng 7 ngày, con Lê Quỳnh Bảo H vẫn tính là con trong thời kỳ hôn nhân giữa chị H và anh H nên chưa làm được giấy khai sinh cho cháu Bảo H. Nay anh Q đề nghị Tòa án công nhận cháu Lê Quỳnh Bảo H là con của anh Lê Văn Q chị H đồng ý và đề nghị Tòa án công nhận anh Q là bố đẻ của cháu Bảo H.

Tại Biên bản xác minh ngày 14/12/2020 Công an phường Đ, quận K, thành phố H cung cấp: Anh Vũ Văn H hiện đang cư trú và thường xuyên sinh hoạt tại số 111 L, phường Đ, quận K, thành phố H.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân quận K đã tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng anh Vũ Văn H là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành lấy được lời khai của anh H, không tiến hành hòa giải được và anh H cũng không có văn bản thể hiện quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh H vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

Tại phiếu kết quả phân tích ADN ngày 14/10/2020 của Công ty cổ phần Dịch vụ phân tích di truyền kết luận: Lê Văn Q, sinh ngày 12/9/1990 và Lê Quỳnh Bảo H, sinh ngày 11/5/2020 có quan hệ huyết thống cha – con.

Tại Công văn số 58/2020/CV-GEN ngày 30/10/2020 của Công ty cổ phần Dịch vụ phân tích di truyền thể hiện: Nhân viên thu mẫu của điểm thu mẫu Công ty cổ phần Dịch vụ phân tích di truyền tại H đã trực tiếp tiến hành thu mẫu để tiến hành xét nghiệm ADN của ông Lê Văn Q, sinh ngày 12/9/1990 và cháu Lê Quỳnh Bảo H, sinh ngày 11/5/2020. Kết quả phân tích ADN đã được Công ty cổ phần Dịch vụ phân tích di truyền trả lời trong Phiếu kết quả mã số: HID2020566 (số KQ:2003033 ngày 14 tháng 10 năm 2020). Công ty cổ phần Dịch vụ phân tích di truyền xác nhận các thông tin trên là đúng sự thật.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận K phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Về cơ bản đã thực hiện đúng trình tự tố tụng; đối với nguyên đơn, bị đơn đã tuân theo đúng quy định của pháp luật; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vi phạm Điều 70, Điều 73 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 88, Điều 89, Điều 91, Điều 101 Luật Hôn nhân gia đình; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn xác định cháu Lê Quỳnh Bảo H (sinh ngày 11/35/2020, theo Giấy chứng sinh ngày 12/5/2020) của Trung tâm ý tế quận K) là con đẻ của anh Lê Văn Q. Về án phí: Anh Q phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

- Về thẩm quyền giải quyết:

Ngày 16 tháng 10 năm 2020 anh Lê Văn Q có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân quận K yêu cầu Tòa án xác nhận anh Lê Văn Q và cháu Lê Quỳnh Bảo H có quan hệ thuyết thống cha – con. Hiện cháu Lê Quỳnh Bảo H đang ở cùng với mẹ là chị Phạm Thị H, địa chỉ: Tổ L 1, phường Q, quận K, thành phố H. Tranh chấp này được Tòa án nhân dân quận K thụ lý, giải quyết theo đúng quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về tư cách tham gia tố tụng:

Anh Lê Văn Q có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án xác nhận cháu Lê Quỳnh Bảo H và anh Lê Văn Q có quan hệ huyết thống cha - con, do vậy anh Lê Văn Q tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn; chị Phạm Thị H là mẹ đẻ và đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Quỳnh Bảo H do vậy chị Phạm Thị H tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn; khi chị Phạm Thị H mang thai cháu Lê Quỳnh Bảo H, chị H đang trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp với anh Vũ Văn H do vậy anh H tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

- Về tố tụng:

Tòa án nhân dân quận K đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định tại Điều 196, Điều 208, Điều 220, Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh Vũ Văn Hải không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Vũ Văn H.

- Xét yêu cầu về việc xác nhận anh Lê Văn Q và cháu Lê Quỳnh Bảo H có quan hệ thuyết thống cha – con:

Chị Phạm Thị H và anh Lê Văn Q chung sống với nhau như vợ chồng trong khi chị H vẫn đang tồn tại hôn nhân hợp pháp với anh Vũ Văn H. Do vậy mối quan hệ giữa chị H và anh Q là không hợp pháp, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ - chồng. Tuy nhiên chị H mang thai con Lê Quỳnh Bảo H trong thời gian chị H và anh Q đang chung sống với nhau và tại Phiếu kết quả phân tích ADN ngày 14/10/2020 của Công ty cổ phần dịch vụ phân tích di truyền đã kết luận anh Lê Văn Q và cháu Lê Quỳnh Bảo H có quan hệ huyết thống cha – con. Do đó có đủ cơ sở để xác định anh Lê Văn Q và cháu Lê Quỳnh Bảo H có quan hệ huyết thống cha – con và làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của anh Lê Văn Q đối với con là Lê Quỳnh Bảo H. Xét yêu cầu của anh Lê Văn Q về việc xác nhận anh Lê Văn Q và cháu Lê Quỳnh Bảo H có quan hệ thuyết thống cha – con là có căn cứ, phù hợp thực tế vụ kiện, phù hợp pháp luật cần được chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án thì anh Lê Văn Q phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 89, Điều 101, Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là anh Lê Văn Q:

Xác nhận anh Lê Văn Q, sinh ngày 12/9/1990 và cháu Lê Quỳnh Bảo H, sinh ngày 11/5/2020 có quan hệ huyết thống cha - con.

- Về án phí: Anh Lê Văn Q phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0015106 ngày 16/10/2020, tại Chi cục Thi hành án dân sự quận K, thành phố H; anh Lê Văn Q đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo đối với bản án: Anh Lê Văn Q và chị Phạm Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Vũ Văn H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ