- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đinh Thị T Lò Văn V"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TAND HUYỆN SÌN HỒ TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2021/HNGĐ- ST Ngày: 17/8/2021 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Bình
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tẩn A Sếnh; Ông Vàng A Măng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hờ A Thái
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Gia Binh- Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 8 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 08/2021/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2021 về việc “Ly hôn" giữa:
Nguyên đơn: Chị Đinh Thị T, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Bản S, xã T, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.
Có mặt.
Bị đơn: Anh Lò Văn V, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Bản T, xã N, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.
Vắng mặt lần 02 không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 01/3/2021, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Đinh Thị T trình bày: Chị và anh Lò Văn V đăng ký kết hôn ngày 08/6/2012 tại UBND thị trấn Nậm Nhùn, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu trên cơ sở tự nguyện, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2013 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Lò Văn V sa vào tệ nạn xã hội, năm 2019 đã đi cai nghiện tại thành phố Lào Cai nhưng không cai nghiện được, về nhà hay đánh chửi vợ con, không quan tâm tới gia đình, vợ chồng đã được hai bên gia đình nội ngoại động viên nhưng không có kết quả. Hiện hai bên đã ly thân gần 02 năm nay, đến nay tình cảm vợ chồng không còn, chị T xin ly hôn với anh V để ổn định cuộc sống và ổn định công việc.
Về con chung: Chị và anh V có 02 cháu, cháu lớn tên Lò Thị Như Q, sinh ngày 09/6/2012, cháu thứ hai tên Lò Thị Lan C, sinh ngày 23/01/2017, chị Đinh Thị T nhận nuôi cả hai cháu và không yêu cầu anh Lò Văn V cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Hai bên không có tài sản chung, nợ chung nên chị Đinh Thị T không đề nghị Tòa án giải quyết.
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo triệu tập lấy lời khai nhưng anh Lò Văn V không đến làm việc với Tòa án vì lý do đi làm ăn xa. Tòa án đã làm thủ tục niêm yết tại nơi đăng ký hộ khẩu của anh Lò Văn V tại xã N, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu và nơi bố mẹ anh V sinh sống tại xã N, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.
Tòa án đã triệu tập các bên để tiến hành mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt không lý do.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ phát biểu ý kiến như sau:
1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của pháp luật.
2. Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về áp dụng pháp luật hôn nhân và gia đình: Ngày 08/6/2012, chị Đinh Thị T và anh Lò Văn V đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Nậm Nhùn, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. Căn cứ khoản 1 Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: “Quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập trước ngày Luật này có hiệu lực thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập để giải quyết”. Tại thời điểm xác lập quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh V thì Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đang có hiệu lực pháp luật, do vậy áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết.
- Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Điều 85, 89, 91 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị T, chị Đinh Thị T được ly hôn với anh Lò Văn V.
- Về con chung, cấp dưỡng nuôi con: Giao cháu Lò Thị Như Q, sinh ngày 09/6/2012 và cháu Lò Thị Lan C, sinh ngày 23/01/2017 cho chị Đinh Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, về cấp dưỡng nuôi con không đề cập giải quyết.
Anh Lò Văn V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đinh Thị T không yêu cầu nên không đề nghị giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Việc xác định quan hệ pháp luật, thẩm quyền xét xử và xác định tư cách đương sự là hoàn toàn đúng theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 và Điều 68 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Về nội dung vụ án: Chị Đinh Thị T và anh Lò Văn V đăng ký kết hôn năm 2012 tại UBND thị trấn Nậm Nhùn, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu trên cơ sở tự nguyện, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mâu thuẫn do anh V mắc tệ nạn xã hội và đã phải đi cai nghiện tập trung tại trung tâm cai nghiện Thành phố Lào Cai năm 2019, chị T và gia đình đã khuyên bảo để anh V từ bỏ ma túy để chăm lo gia đình nhưng anh V vẫn không từ bỏ được, về nhà hay đánh chửi vợ con, không quan tâm tới gia đình, anh chị đã ly thân gần 02 năm nay (hiện anh Lò Văn V đã đi làm công nhân tại tỉnh Bắc Ninh không rõ địa chỉ nhưng vẫn liên lạc qua điện thoại về gia đình), hai bên không còn quan tâm đến nhau. Nay chị T không còn tình cảm với anh V nên làm đơn xin ly hôn.
Tại phiên tòa ngày 22/7/2021 bị đơn anh Lò Văn V vắng mặt không lý do. Tòa án đã niêm yết quyết định đưa vụ án ra xét xử, thông báo hoãn phiên tòa tại trụ sở UBND xã N, UBND xã N huyện Sìn Hồ, nhưng anh V vắng mặt không lý do. Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân của chị T và anh V.
Tại biên bản xác minh ngày 30/6/2021 tại nhà bà Lò Thị P mẹ đẻ anh Lò Văn V tại bản N, xã N, huyện Sìn Hồ. Bà Lò Thị P cho biết anh Lò Văn V hiện làm công nhân tại tỉnh Bắc Ninh, gia đình không rõ địa chỉ. Tháng 11 (âm lịch) năm 2020 anh Lò Văn V có về nhà vài ngày, còn thi thoảng vẫn gọi điện về nhà cho mẹ đẻ thông qua cháu dâu là chị Khoàng Thị H, việc vợ chồng chị Đinh Thị T anh Lò Văn V đang giải quyết ly hôn gia đình bà không biết.
Tại biên bản xác minh ngày 05/8/2021 tại nhà ông Lù Văn S- Trưởng bản T, xã N, huyện Sìn Hồ. Ông S cho biết vợ chồng anh V, chị T chuyển đến sinh sống ở bản T từ năm 2019, giữa hai vợ chồng không thấy mâu thuẫn gì, nếu có thì dân bản không được biết. Sau khi anh Vở bị đưa đi cai nghiện bắt buộc ở Lào Cai năm 2019, chị Đinh Thị T đã bán nhà chuyển công tác về ở và dậy học tại xã T, huyện Sìn Hồ.
Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Đinh Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với anh Lò Văn V và không đề nghị giải quyết về tài sản chung và nợ chung. Xét yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và việc giải quyết ly hôn để chị T ổn định cuộc sống, ổn định công việc là cần thiết vì tình cảm của chị Đinh Thị T cũng không còn giành cho anh Lò Văn V, hai bên cũng có sự mâu thuẫn và đã ly thân, không còn quan tâm đến nhau.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Đinh Thị T phù hợp với quy định tại Điều 85, 89, 91 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đinh Thị T.
Về con chung, cấp dưỡng: Tháng 5/2021 chị Đinh Thị T đưa cháu Lò Thị Như Q về ở với bà Lò Thị P là mẹ đẻ anh Lò Văn V, Tòa án lấy lời khai của cháu Lò Thị Như Q, cháu Q muốn ở với bố. Nhưng tại phiên tòa cháu Lò Thị Như Q trình bày từ ngày cháu về ở với bà nội, bố cháu là Lò Văn V chưa về thăm lần nào, nay mẹ cháu đã đón cháu lên ở với mẹ và em nên giờ cháu muốn ở với mẹ. Ý kiến chị Đinh Thị T muốn nuôi cả hai cháu vì hiện anh Lò Văn V đi làm ăn xa, việc giao cháu Lò Thị Như Q cho anh Lò Văn V không đảm bảo cuộc sống cũng như học tập và phát triển của cháu, nên cần giao cháu Lò Thị Như Q và cháu Lò Thị Lan C cho chị Đinh Thị T nuôi dưỡng, là phù hợp với yêu cầu của chị Đinh Thị T và ý kiến cháu Lò Thị Như Q vì hiện tại chị Đinh Thị T cũng có công việc ổn định là giáo viên và có điều kiện chăm sóc đảm bảo việc ăn học và phát triển của các cháu. Về cấp dưỡng nuôi con, chị Đinh Thị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đinh Thị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về án phí: Căn cứ điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Quyết định số 861/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 04/6/2021. Quyết định phê duyệt danh sách thôn đặc biệt khó khăn, xã khu vực III, khu vực II, khu vực I, thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021- 2025 và xét đơn xin miễn án phí của chị Đinh Thị T. Cần miễn án phí Dân sự sơ thẩm đối với vụ án Hôn nhân gia đình cho chị Đinh Thị T theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 68; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 85, 89, 91 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị T.
Về quan hệ hôn nhân: Chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa chị Đinh Thị T và anh Lò Văn V theo giấy chứng nhận kết hôn số 07, quyển số 01/2012 ngày 08/6/2012 do Ủy ban nhân dân thị trấn Nậm Nhùn, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu cấp. Quan hệ hôn nhân giữa chị Đinh Thị T và anh Lò Văn V chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung, cấp dưỡng: Giao cháu Lò Thị Như Q, sinh ngày 09/6/2012 và cháu Lò Thị Lan C, sinh ngày 23/01/2017 cho chị Đinh Thị T nuôi dưỡng đến khi trưởng thành (đủ 18) tuổi, có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Đinh Thị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
- Tài sản chung, nợ chung: Không đề cập giải quyết.
- Về án phí: Miễn án phí Dân sự sơ thẩm Hôn nhân gia đình cho chị Đinh Thị T.
Vụ án được xét xử công khai có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại trụ sở Uỷ ban nhân dân xã Nậm C, Ủy ban nhân dân xã N, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện; - UBND các xã N, N, huyện Sìn Hồ; - UBND thị trấn Nậm Nhùn, huyện Nậm Nhùn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Bình |