vanban.org

Bản án 03/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn ông Phạm Hồng H đối với bị đơn bà Bá Thị Kim T.

Quan hệ hôn nhân: Cho ông Phạm Hồng H được ly hôn với bà Bá Thị Kim T. [2] Con chung: Giao cho ông Phạm Hồng H trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Phạm Hồng T, sinh ngày 08/7/ 2013 ( giới tính: Nam ). Bà Bá Thị Kim T không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Hồng H ly hôn Bá Thị Kim T"
  • Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn ông Phạm Hồng H đối với bị đơn bà Bá Thị Kim T.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘC HÓA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 31-3-2021
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC HÓA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Văn Khởi

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Những

2. Bà Hồ Thị Loan

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An.

Ngày 31 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 130/2020/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 11 năm 2020 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2021/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phạm Hồng H, sinh năm: 1973, địa chỉ: ấp 1, xã B, huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An (có mặt).

- Bị đơn: bà Bá Thị Kim T, sinh năm: 1992, địa chỉ: ấp 1, xã B, huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Phạm Hồng H trình bày:

Hôn nhân: Ông H và bà T cưới nhau nhau vào năm 2012. Nhưng đến năm 2016, mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B huyện Mộc Hóa theo Giấy chứng nhận kết hôn số 30/2016, ngày 01/09/2016. Quá trình chung sống ông H và bà T cũng có hạnh phúc được thời gian đầu. Tuy nhiên đến đầu năm 2020 thì ông H và bà T phát sinh mâu thuẫn do ông và bà T thường xuyên cãi vả, bất đồng quan điểm. ông H đã nhiều lần tìm cách dàn xếp, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được, hiện ông H và bà T đã sống ly thân được gần 1 năm. Do đó, ông H xét thấy vợ chồng không thể đoàn tụ được nên yêu cầu ly hôn.

Con chung: Quá trình chung sống ông Hưng và bà T có 01 người con chung là Phạm Hồng T, sinh ngày 08/7/ 2013. Con chung hiện nay sống với ông H. Sau khi ly hôn ông H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu bà Bà Bá Thị Kim T cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung, nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn bà Bá Thị Kim T mặc dù đã được Tòa án cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà T không cung cấp văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu ly hôn và nuôi con chung của ông H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Thẩm quyền của Tòa án và quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào nơi cư trú và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn, xét vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An và quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp ly hôn căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 các Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Xét bị đơn bà Bá Thị Kim T đã được tống đạt giấy báo tham gia phiên tòa 02 lần nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt bà Bá Thị Kim T.

Quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Hồng H và bà Bá Thị Kim T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Mộc Hóa vào năm 2016 đúng với quy định của Luật hôn nhân gia đình, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Ông H khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà T do trong quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi vả, bất đồng quan điểm. Tòa án thụ lý vụ án và cấp, tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên hòa giải vụ án nhiều lần nhằm để tạo điều kiện cho ông H và bà T tìm biện pháp để hàn gắn lại tình cảm vợ chồng nhưng bà T vắng mặt không có lý do và cũng không thể hiện ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của ông H. Hơn nữa, ông H cương quyết yêu cầu ly hôn với bà T. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa ông H và bà T đã trầm trọng, đời sống chung hiện không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của ông Phạm Hồng H đối với bà Bá Thị Kim T.

Nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Ông H yêu cầu được nuôi dưỡng con chung tên là Phạm Hồng T, sinh ngày 08/7/ 2013 ( giới tính: Nam ). Bà Bá Thị Kim T không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu nuôi con chung của ông H. Xét thấy, con chung đang sống với ông H, được ông H chăm sóc và có cuộc sống ổn định, con chung có yêu cầu khi cha mẹ ly hôn thì được ở với Cha. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con”, Hội đồng xét xử giao cho ông H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con: Xét thấy ông Phạm Hồng H tự nguyện không yêu cầu bà Bá Thị Kim T cấp dưỡng nuôi con, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Tài sản chung, nợ chung: ông H trình bày không có nên không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: ông Phạm Hồng H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 các Điều 35, 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Các Điều 81, 82, 83, 84, 85 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn ông Phạm Hồng H đối với bị đơn bà Bá Thị Kim T.

Quan hệ hôn nhân: Cho ông Phạm Hồng H được ly hôn với bà Bá Thị Kim T.

[2] Con chung: Giao cho ông Phạm Hồng H trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Phạm Hồng T, sinh ngày 08/7/ 2013 ( giới tính: Nam ). Bà Bá Thị Kim T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên; cấp dưỡng nuôi con và thay đổi cấp dưỡng nuôi con được thực hiện theo quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84, 85, 110,116 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Án phí: Ông Phạm Hồng Hphải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí ông H đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000110 ngày 17/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An chuyển sang án phí.

[4] Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày (mười lăm ngày) kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ