vanban.org

Bản án 03/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 05/02/2021 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Anh T đư c ly hôn với anh Nguyễn Văn N.

Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận tự nguyện của v ch ng về việc chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung như sau: Chị Lê Thị Anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Lê G, sinh ngày 06/11/2014 đến tuổi trưởng thành; Anh Nguyễn Văn N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Nguyễn Lê T, sinh ngày 31/8… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình giữa chị T và anh N 2021"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Anh T đư c ly hôn với anh Nguyễn Văn N.
  • Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 05/02/2021
V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Đào

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tất Thể; Bà Nguyễn Thị Phương Nga.

- T ký phiên toà: Bà Lê Thị Hạnh - T ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 02 năm 2021 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 88/2020/TLST - HNGĐ, ngày 24/11/2020. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2020/QĐXXST - HNGĐ ngày 07/01/2021 và quyết định hoãn phiên tòa số 02/QĐST – HNGĐ ngày 21/01/2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị Anh T; sinh năm 1995; Nơi đăng ký HKTT: Thôn H, xã N, Thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Chỗ ở hiện nay: Xóm N Hải, xã Kỳ Hải, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt tại phiên tòa).

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1991; Nơi đăng ký HKTT: Thôn H, xã N, Thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang lao động tự do tại Hàn Quốc (Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai có tại h sơ vụ án, chị Lê Thị Anh T trình ày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Anh T và anh Nguyễn Văn N kết hôn với nhau vào ngày 19/5/2014 tại y an nhân dân xã N, Huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (Nay là xã N, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh). Trước khi kết hôn chị T và anh N đư c tự do tìm hiểu, không ị ai ép uộc. Sau khi kết hôn v ch ng chung sống hạnh phúc với nhau đư c hơn 02 năm. Đến tháng 10/2016 anh Nguyễn Văn N đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, thời gian đầu v ch ng cũng Tờng liên lạc, chia sẻ cùng nhau mọi vấn đề trong cuộc sống. Nhưng ắt đầu từ năm 2017, v ch ng phát sinh nhiều mâu thuẫn, anh N rất ít khi liên lạc với v con, cũng không gửi chi phí để nuôi con. Do sống cách xa nhau không có thời gian ên nhau để chia sẻ cùng nhau, hàn gắn những mâu thuẫn nên tình cảm cứ thế phai nhạt dần. Chị T không rõ địa chỉ cụ thể của anh N tại Hàn Quốc, hiện tại chị xác định tình cảm v ch ng không còn, đời sống chung không thể tiếp tục hàn gắn, hòa h p, mục đích hôn nhân không đạt đư c. Vì vậy, chị T làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết cho v ch ng đư c ly hôn.

Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống chị T và anh N có 02 con chung là Nguyễn Lê G, sinh ngày 06/11/2014, Nguyễn Lê T, sinh ngày 31/8/2016. Tại nội dung đơn khởi kiện chị T có nguyện vọng đư c nhận nuôi hai con đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh N đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Quá trình Tòa giải quyết vụ án chị T đề nghị Tòa án ghi nhận sự thỏa thuận tự nguyện của v ch ng chị về việc nuôi dưỡng các con chung như sau: Chị Lê Thị Anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Lê G, sinh ngày 06/11/2014 đến tuổi trưởng thành; Anh Nguyễn Văn N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Nguyễn Lê T, sinh ngày 31/8/2016 đến tuổi trưởng thành, trong thời gian anh N đang lao động tại Hàn Quốc tạm thời giao cháu T cho à nội là à Trần Thị H chăm sóc, nuôi dưỡng. Hai ên không ên nào phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai đư c ngăn cấm, cản trở.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, T ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ án, đã đề nghị Hội đ ng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Anh T. Xử cho chị Lê Thị Anh T đư c ly hôn với anh Nguyễn Văn N; Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận tự nguyện của v ch ng về việc nuôi dưỡng các con chung như sau: Chị Lê Thị Anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Lê G, sinh ngày 06/11/2014 đến tuổi trưởng thành ; anh Nguyễn Văn N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Nguyễn Lê T, sinh ngày 31/8/2016 đến tuổi trưởng thành, trong thời gian anh N đang lao động tại Hàn Quốc tạm thời giao cháu T cho à nội là à Trần Thị H chăm sóc, nuôi dưỡng. Hai ên không ên nào phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai đư c ngăn cấm, cản trở. Về tài sản chung, n chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Buộc nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Về tố tụng:

Anh Nguyễn Văn N hiện đang lao động tự do tại Hàn Quốc không có địa chỉ cụ thể. Tại công văn số 22484/QLXNC-P5, ngày 01/12/2020 của Cục quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an, xác nhận: Anh Nguyễn Văn N, sinh ngày 17/01/1991 đã xuất nhập cảnh 11 lần, xuất cảnh gần nhất ngày 24/10/2016, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.

Toà án đã tiến hành xác minh qua người thân của anh Nguyễn Văn N là à Trần Thị H (mẹ đẻ của anh N). Tại Biên ản xác minh à Trần Thị H cho iết: Anh N lao động tại Hàn Quốc nhưng địa chỉ cụ thể à không rõ. Anh N Tờng xuyên liên lạc về với gia đình qua điện thoại, iết việc chị Lê Thị Anh T làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn đối với anh, anh có thông tin cho iết mâu thuẫn tình cảm v ch ng, nay chị T yêu cầu ly hôn anh đ ng ý; Về con chung giữa anh và chị T có 02 con chung là Nguyễn Lê G, sinh ngày 06/11/2014, Nguyễn Lê T, sinh ngày 31/8/2016, v ch ng đã àn ạc và thống nhất thỏa thuận đề nghị Tòa án ghi nhận sự thỏa thuận tự nguyện của v ch ng về việc nuôi dưỡng các con chung; Về tài sản chung, n chung: V ch ng không có tài sản chung, về n chung anh N chịu trách nhiệm trả toàn ộ nên không yêu cầu Tòa án xem xét. Hiện tại, anh N đang lao động tự do tại Hàn Quốc không thể về trực tiếp giải quyết vụ án cũng như phiên tòa nên đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh; à Trần Thị H và anh Nguyễn Văn N cũng đề nghị Tòa án giao các văn ản tố tụng của Tòa án thông qua bà H, bà cam đoan sẽ gửi và thông tin đầy đủ cho anh N, nếu anh N gửi tài liệu về thì bà sẽ giao nộp cho Tòa án. Theo Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn về việc giải quyết vụ án ly hôn có ị đơn là người Việt N ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn N theo quy định.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Anh T và anh Nguyễn Văn N đã tuân thủ các điều kiện kết hôn và đã đăng ký kết hôn ngày 19/5/2014 tại y an nhân dân xã N, Thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Căn cứ quy định về điều kiện kết hôn của Luật hôn nhân và gia đình thì đây là hôn nhân h p pháp.

Sau khi kết hôn, v ch ng chung sống hạnh phúc đư c một thời gian đến đầu năm 2017 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn kể từ khi anh N đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, giữa v ch ng không tìm đư c tiếng nói chung, không còn quan tâm, liên lạc gì với nhau, dẫn đến tình cảm không còn, không thể tiếp tục, duy trì cuộc sống hôn nhân đư c nữa.

Mục đích hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến ộ, hạnh phúc, v ch ng có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chung thủy, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau…nhưng hôn nhân của chị T và anh N không đạt đư c mục đích đó, mâu thuẫn đã trầm trọng, v ch ng không còn Thương yêu, quý trọng, chăm sóc, chung thủy, giúp đỡ nhau. Tại Điều 51 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn”. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Anh T xử cho chị đư c ly hôn anh Nguyễn Văn N để mỗi người tự xây dựng cuộc sống mới tốt đẹp hơn.

Về quan hệ con chung: Chị Lê Thị Anh T và anh Nguyễn Văn N có 02 con chung là Nguyễn Lê G, sinh ngày 06/11/2014, Nguyễn Lê T, sinh ngày 31/8/2016. Hai cháu hiện sống cùng à nội Trần Thị H, đư c à chăm sóc, yêu Tơng các cháu đều phát triển tốt cả về thể chất lẫn tinh thần. Tại nội dung đơn khởi kiện chị T có nguyện vọng đư c nhận nuôi dưỡng hai con đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh N đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Nhưng quá trình Tòa án giải quyết tại nội dung ản tự khai ngày 23/12/2020 ( l 39), iên ản lấy lời khai ( l 41, 42) chị trình ày: ản thân chị là phụ nữ, cuộc sống còn nhiều khó khăn, công việc chưa ổn định; phía gia đình anh N mặc dù anh N không sinh sống tại Việt N nhưng có mẹ là à Trần Thị H cũng rất Tơng yêu các cháu, ông à nội cũng là người có sức khỏe tốt, thu nhập khá nên chị và anh N đã àn ạc thống nhất thỏa thuận về việc nuôi dưỡng các con chung như sau: Chị Lê Thị Anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Lê G, sinh ngày 06/11/2014 đến tuổi trưởng thành; Anh Nguyễn Văn N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Nguyễn Lê T, sinh ngày 31/8/2016 đến tuổi trưởng thành trong thời gian anh N đang lao động tại Hàn Quốc tạm thời giao cháu T cho à nội là à Trần Thị H chăm sóc, nuôi dưỡng. Hai ên không ên nào phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai đư c ngăn cấm, cản trở. Thỏa thuận này của v ch ng là hoàn toàn tự nguyện đề nghị Tòa án ghi nhận sự thỏa thuận này. Tại iên ản xác minh các ngày 04/12/2020, 16/12/2020, 23/12/2020 (bl 24, 25, 29, 30, 33, 34) à Trần Thị H cho iết à đủ điều kiện về thời gian, sức khỏe, tiền ạc để chăm sóc nuôi dưỡng các cháu; anh N mặc dù lao động tại Hàn Quốc nhưng cũng Tờng xuyên liên lạc nói chuyện với các con và gửi chi phí về để bà trang trải cuộc sống cho các cháu. Anh Nguyễn Văn N qua cuộc gọi ằng hình ảnh thông qua ứng dụng Messger trên điện thoại có sự chứng kiến của chính quyền địa phương cũng đã trình bày v ch ng anh đã có sự àn ạc, thống nhất về việc chăm sóc nuôi dưỡng các con chung như chị T đã trình ày. Xét thỏa thuận của các ên đương sự là hoàn toàn tự nguyện và phù h p với điều kiện hoàn cảnh thực tế. Do đó, cần căn cứ quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình, ghi nhận sự thỏa thuận tự nguyện của v ch ng về việc chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng các con chung như các đương sự đã trình ày.

Về tài sản chung, n chung: Không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83,123, 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, các Điều 28, 37, 227, 273, 469, khoản 2 Điều 479, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao về giải quyết vụ án Ly hôn có ị đơn là người Việt N ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Anh T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Anh T đư c ly hôn với anh Nguyễn Văn N.

2. Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận tự nguyện của v ch ng về việc chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung như sau: Chị Lê Thị Anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Lê G, sinh ngày 06/11/2014 đến tuổi trưởng thành; Anh Nguyễn Văn N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Nguyễn Lê T, sinh ngày 31/8/2016 đến tuổi trưởng thành; Trong thời gian anh N đang lao động tại Hàn Quốc tạm thời giao cháu T cho à nội là à Trần Thị H chăm sóc, nuôi dưỡng. Hai ên không ên nào phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai đư c ngăn cấm, cản trở.

2. Về án phí: Buộc chị Lê Thị Anh T phải chịu 300.000 đ ng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng đư c trừ vào số tiền 300.000 đ ng tạm ứng án phí đã nộp theo iên lai số 0000079 ngày 23/11/2020 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo ản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo ản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận đư c ản án hoặc kể từ ngày ản án đư c niêm yết.

Cỡ chữ