vanban.org

Bản án 03/2021/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn T.

Xác định cháu Trần Trường I, sinh ngày 04/01/2019 không phải là con đẻ của anh Trần Văn T. Anh Trần Văn T có quyền liên hệ với cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp xác định con cho cha"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ GIA NGHĨA
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 25 - 3 - 2021
V/v tranh chấp xác định con cho cha.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thắm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đỗ Thị Mau

2. Ông Trần Văn Ất.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Mỹ Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến Như - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 182/2020/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2020 về việc “Tranh chấp xác định con cho cha”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2021, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1986.

Địa chỉ: Tổ dân phố A, phường Q, thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt

Bị đơn: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1994.

Địa chỉ: Tổ dân phố A, phường Q, thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn anh Trần Văn T trình bày:

Anh và chị Phạm Thị H là vợ chồng, đăng ký kết hôn năm 2015 tại UBND xã H, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Giữa anh và chị H có hai con chung là cháu Trần Phạm Khánh L, sinh ngày 16/10/2015 và cháu Trần Trường I, sinh ngày 04/01/2019. Sau khi sinh cháu I, anh phát hiện chị H từng có mối quan hệ bất chính với người đàn ông khác. Từ đó anh ghi ngờ cháu I không phải là con đẻ của mình nên tự làm thủ tục giám định AND, kết quả giám định xác nhận anh và cháu I không có quan hệ huyết thống cha - con. Vì vậy, anh khởi kiện cầu Tòa án xác định cháu Trần Trường I, sinh ngày 04/01/2019 không phải là con đẻ của anh.

Bị đơn chị Phạm Thị H trình bày:

Chị và anh Trần Văn T kết hôn năm 2015. Khoảng năm 2018, chị và anh T phát sinh mâu thuẫn. Do cuộc sống chung vợ chồng không hòa hợp, không hạnh phúc nên chị nhất thời có tình cảm với người đàn ông khác. Trong khoảng thời gian này chị có thai nhưng không xác định được là có thai với ai. Ngày 04/01/2019 chị sinh con và đặt tên là Trần Trường I. Ngày 11/01/2019 anh T đi đăng ký khai sinh cho cháu I, được Ủy ban nhân dân xã Q, thị xã Gia Nghĩa cấp giấy khai sinh. Từ khi sinh cháu I, chị linh cảm cháu I không phải là con của anh T nhưng để giữ gìn hạnh phúc gia đình chị không làm xét nghiệm AND. Nay anh T yêu cầu Tòa án xác định cháu Trần Trường I không phải là con đẻ của anh T, chị không có ý kiến gì. Chị yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt (đều có đề nghị xét xử vắng mặt).

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông phát biểu ý kiến việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự: Đều thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng khoản 2 Điều 89, khoản 2 Điều 101; khoản 2 Điều 102 của Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn T; Xác định cháu Trần Trường I, sinh ngày 04/01/2019 không phải là con đẻ của anh Trần Văn T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Bị đơn cư trú tại phường Q, thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.

Anh Trần Văn T yêu cầu Tòa án xác định cháu Trần Trường I, sinh ngày 04/01/2019 không phải là con đẻ của anh. Vì vậy, cần xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp xác định con cho cha” theo quy định tại khoản 4 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án thực hiện thủ tục xét xử vắng mặt các đương sự.

Xét yêu cầu khởi kiện xác định con cho cha của nguyên đơn:

Anh Trần Văn T và chị Phạm Thị H đăng ký kết hôn năm 2015. Ngày 04/01/2019 chị H sinh cháu Trần Trường I. Ngày 11/01/2019 anh T làm thủ tục khai sinh, được Ủy ban nhân dân xã Q, thị xã (nay là thành phố) Gia Nghĩa cấp giấy khai sinh số 06/2019 và xác định mẹ là Phạm Thị H và cha là Trần Văn T Năm 2020 anh T cho rằng cháu I không phải là con đẻ của mình nên làm thủ tục giám định AND, sau đó anh T căn cứ vào phiếu kết quả phân tích ADN ngày 14/11/2020 của Công ty cổ phần dịch vụ phân tích di truyền - Gentis để khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định cháu I không phải là con đẻ của anh.

Tại khoản 2 Điều 89 Luật hôn nhân và gia đình quy định:

Người được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó không phải là con mình.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có Quyết định số 02/2021/QĐ-TCGĐ Ngày 21/01/2021 Trưng cầu Công ty Cổ phần dịch vụ phân tích di truyền GENTIS thực hiện giám định AND của anh Trần Văn T và cháu Trần Trường I, yêu cầu kết luận: Cháu Trần Trường I có quan hệ huyết thống cha – con với anh Trần Văn T hay không? Tại phiếu kết quả phân tích ADN ngày 24/02/2021 của Công ty cổ phần dịch vụ phần tích di truyền - Gentis kết luận: Anh Trần Văn T không có quan hệ huyết thống cha - con với cháu Trần Trường I.

Như vậy, có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn T.

Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, cần chấp nhận.

Về án phí: Anh Trần Văn T được miễn nộp án phí theo quy định tại khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Về chi phí tố tụng: Chi phí giám định là 5000.000 đồng. Số tiền này anh Trần Văn T đã nộp tạm ứng. Do vậy cần buộc chị H phải hoàn trả cho anh Trần Văn T.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 1 Điều 147, Điều 161, khoản 1 Điều 228, Điều 238 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng khoản 2 Điều 89, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn T.

Xác định cháu Trần Trường I, sinh ngày 04/01/2019 không phải là con đẻ của anh Trần Văn T.

Anh Trần Văn T có quyền liên hệ với cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

2. Về án phí: Anh Trần Văn T được miễn nộp tiền án phí của vụ án. Hoàn trả cho anh T tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ngày 24/11/2020 của Chi cục Thi hành án thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.

3. Về chi phí tố tụng: Buộc chị Phạm Thị H phải hoàn trả cho anh Trần Văn T tiền chi phí giám định là 5000.000 đồng.

4. Về quyền kháng cáo: Anh Trần Văn T và chị Phạm Thị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ