- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "NHCSXH Việt Nam kiện bà Mai Thị H phải trả khoản tiền nợ đã vay và lãi phát sinh"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN ND HUYỆN VĨNH LỘC TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2021/DS-ST. Ngày: 19 - 02 - 2021. V/v: "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản". |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỘC - THANH HOÁ.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hương Giang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Dũng, ông Phạm Ngọc Dung.
- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Văn Tư – Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện Vĩnh Lộc - tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa không tham gia phiên tòa.
Trong ngày 19 tháng 02 năm 2021 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 30/2020/TLST- DS ngày 16 tháng 7 năm 2020 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2021/QĐXXST - DS ngày 15 tháng 01 năm 2021 và quyết định hoãn phiên tòa số 03/2021/QĐST – DS ngày 03 tháng 02 năm 2021 đối với các đương sự:
1- Nguyên đơn: Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam
Địa chỉ: Tòa nhà CC5, bán đảo Linh Đàm, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết Th – Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị Th – Chức vụ: Giám đốc.
Người được ủy quyền lại: Ông Phạm Chiến Th - Chức vụ: Phó Giám đốc.
(Quyết định ủy quyền số 4716/QĐ – NHCS ngày 25/11/2016 và Giấy ủy quyền ngày 08/7/2020)
Địa chỉ: Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện V – Thôn B, xã P, huyện V, tỉnh T.
Có mặt tại phiên tòa.
2 - Bị đơn: Bà Mai Thị H – sinh năm 1971
Địa chỉ: Thôn K, xã N, huyện V, tỉnh T.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Nguyễn Sơn H (tên gọi khác: Nguyễn Văn H) – sinh năm 1968
+ Chị Nguyễn Thị Út Q – sinh năm 1998
Đều trú tại: Thôn K, xã N, huyện V, tỉnh T.
+ Chị Nguyễn Thị H – sinh năm 1990
Trú tại: Thôn K, xã N, huyện V, tỉnh T.
Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 08 tháng 7 năm 2020 của Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam, bản tự khai ngày 29/7/2020 và quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn là ông Phạm Chiến Th trình bày:
Ngày 10/11/2016 hộ gia đình bà Mai Thị H đã làm đơn xin vay vốn chương trình cho vay hộ mới thoát nghèo để chăn nuôi trâu, bò sinh sản theo quy định của nhà nước với số tiền đề nghị xin vay là 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng), thời hạn 36 tháng và đã được Ngân hàng chính sách xã hội phê duyệt cho vay. Bà H đã nhận tiền vay từ Ngân hàng chính sách xã hội với số tiền là 40.000.000 đồng vào ngày 23/11/2016. Lãi suất là 0,6875%/tháng, lãi suất nợ quá hạn 130% lãi suất khi cho vay, thời hạn vay 36 tháng, kỳ hạn trả nợ 12 tháng/lần, số tiền trả nợ 13.300.000 đồng/lần, hạn trả nợ cuối cùng vào ngày 14/11/2019. Lãi tiền vay được trả định kỳ vào ngày 14 hàng tháng. Đến hạn chưa trả được nợ, bà H đã làm đơn xin gia hạn nợ 06 tháng và đã được Ngân hàng chính sách xã hội gia hạn nợ đến ngày 14/5/2020.
Ngày 14/5/2020, bà H đã trả được 4.000.000 đồng, sau đó hộ bà H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nữa. Do hộ bà H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ngày 14/5/2020, Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện V đã chuyển toàn bộ số tiền nợ 36.000.000 đồng sang nợ quá hạn với lãi suất phạt bằng 130% lãi suất khi cho vay. Từ khi chuyển sang nợ quá hạn Ngân hàng đã thường xuyên phối hợp cùng UBND và Hội Cựu chiến binh xã N giải thích, động viên hộ bà H trả nợ nhưng hộ bà H đã trây ì cố tình không trả. Như vậy, hộ bà Mai Thị H đã cố tình vi phạm hợp đồng tín dụng vay vốn chương trình cho vay hộ mới thoát nghèo, không thực hiện đúng cam kết nghĩa vụ trả nợ cho Nhà nước nên Ngân hàng chính sách xã hội đã làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc hộ gia đình bà Mai Thị H phải trả số tiền nợ gốc còn lại cũng như tiền lãi phát sinh chưa trả theo như hợp đồng đã ký kết cho Ngân hàng cho đến khi thanh toán hết số tiền nợ.
Trong quá trình Tòa án giải quyết ngày 14/11/2020, hộ gia đình bà H trả được 3.000.000 đồng, từ đó đến nay hộ bà H không trả nợ nữa.
Bị đơn là bà Mai Thị H và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Sơn H, chị Nguyễn Thị H, chị Nguyễn Thị Út Q đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do, không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ kèm theo nên Tòa án không thu thập được nguyện vọng của bà H, ông H, chị H, chị Q.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử buộc hộ gia đình bà Mai Thị H phải có trách nhiệm trả cho ngân hàng chính sách xã hội số tiền gốc đã vay còn lại là 33.000.000 đồng (Ba mươi ba triệu đồng) và tiền lãi phát sinh chưa trả tính đến ngày xét xử (19/02/2021) theo mức lãi suất quá hạn 130% lãi suất khi cho vay (0,6875%/tháng) là 660.731 đồng (sáu trăm sáu mươi nghìn đồng bảy trăm ba mươi mốt đồng) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng mà hai bên đã ký kết cho đến khi trả nợ xong.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa vµ trong qu¸ tr×nh gi¶i quyÕt vô ¸n Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Do hộ gia đình bà Mai Thị H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc hộ gia đình bà H phải trả số tiền nợ gốc đã vay và tiền lãi phát sinh. Bà Mai Thị H cư trú tại thôn K, xã N, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Bị đơn bà Mai Thị H, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Sơn H, chị Nguyễn Thị H, chị Nguyễn Thị Út Q không đến Tòa án làm việc cho dù đang có mặt tại địa phương. Bà H, ông H, chị H, chị Q đã được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập để trình bày ý kiến, các thông báo về phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa theo đúng quy định của pháp luật nhưng vẫn cố tình vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Các thủ tục đã được tiến hành đảm bảo theo quy định tại Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà H, ông H, chị H, chị Q là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không nộp văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng là vi phạm nghĩa vụ giao nộp chứng cứ và Tòa án thu thập để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ tranh chấp và điều luật áp dụng: Giao dịch dân sự ngày 23/11/2016 giữa ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam và hộ gia đình bà Mai Thị H được thực hiện trước ngày Bộ luật dân sự 2015 có hiệu lực nhưng giao dịch này đang được thực hiện mà có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 nên áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 để giải quyết là phù hợp. Trên cơ sở chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cũng như lời trình bày của nguyên đơn và căn cứ vào khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015 vụ án có quan hệ pháp luật: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Về nội dung: Căn cứ vào sổ vay vốn, giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay cũng như các tài liệu, chứng cứ khác thể hiện: Ngày 10/11/2016 hộ gia đình bà Mai Thị H đã làm đơn xin vay vốn chương trình cho vay hộ mới thoát nghèo để chăn nuôi trâu, bò sinh sản theo quy định của nhà nước với số tiền đề nghị xin vay là 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng), thời hạn 36 tháng và đã được Ngân hàng chính sách xã hội phê duyệt cho vay. Bà H đã nhận tiền vay từ Ngân hàng chính sách xã hội với số tiền là 40.000.000 đồng vào ngày 23/11/2016. Lãi suất là 0,6875%/tháng, lãi suất nợ quá hạn 130% lãi suất khi cho vay, thời hạn vay 36 tháng, kỳ hạn trả nợ 12 tháng/lần, số tiền trả nợ 13.300.000 đồng/lần, hạn trả nợ cuối cùng vào ngày 14/11/2019. Lãi tiền vay được trả định kỳ vào ngày 14 hàng tháng. Đến hạn chưa trả được nợ, bà H đã làm đơn xin gia hạn nợ 06 tháng và đã được Ngân hàng chính sách xã hội gia hạn nợ đến ngày 14/5/2020 nhưng hộ gia đình bà H không thực hiện nghĩa vụ đúng như cam kết. Nay đã quá thời hạn cho vay và thu hồi gốc, lãi nhưng bị đơn bà Mai Thị H và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông H, chị H, chị Q không thanh toán tiền gốc và lãi theo hợp đồng vay tiền với Ngân hàng. Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện hộ gia đình bà H ra Tòa án để thu hồi tiền vốn vay và lãi để đảm bảo nguồn vốn vay nhằm thực hiện chính sách cho vay đối với các đối tượng chính sách xã hội theo chủ trương của Nhà nước tại địa phương.
Xét yêu cầu của nguyên đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án và cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam – Phòng giao dịch huyện Vĩnh Lộc vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với hộ gia đình bà Mai Thị H, yêu cầu thanh toán số tiền gốc đã vay còn lại là 33.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh chưa trả tính đến ngày xét xử (19/02/2021) theo mức lãi suất quá hạn 130% lãi suất khi cho vay (0,6875%/tháng) là 660.731 đồng và tiền lãi phát sinh tính từ ngày tiếp theo ngày xét xử theo khế ước mà hai bên đã ký kết cho đến khi trả nợ xong. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ của nguyên đơn nộp cho Tòa án như sổ vay vốn, mã khách hàng 271109023, Sổ lưu tờ rời theo dõi cho vay, thu nợ, dư nợ người vay hộ bà Mai Thị H; Giấy đề nghị vay vốn, kiêm phương án sử dụng vốn vay, giấy đề nghị gia hạn nợ đã được Tòa án công khai chứng cứ bị đơn bà Mai Thị H và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông H, chị H chị Q không có ý kiến gì phản đối các tài liệu, chứng cứ nêu trên của nguyên đơn nộp cho Tòa án. Trong quá trình Tòa án giải quyết ngày 14/11/2020, hộ bà H trả được 3.000.000 đồng, nên đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 91 và Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử, có đủ căn cứ xác định hộ gia đình bà Mai Thị H có vay của Ngân hàng chính sách xã hội - phòng giao dịch huyện Vĩnh Lộc số tiền vốn vay 40.000.000 đồng vào ngày 23/11/2016. Tính đến ngày xét xử (19/02/2021) hộ gia đình bà H còn nợ Ngân hàng chính sách xã hội số tiền gốc là 33.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh chưa trả theo mức lãi suất quá hạn 130% lãi suất khi cho vay (0,6875%/tháng) là 660.731 đồng.
Do hộ gia đình bà Mai Thị H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ như khế ước mà hai bên đã thỏa thuận, ký kết nên Ngân hàng sách xã hội khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc hộ gia đình bà H phải trả số tiền gốc còn lại và tiền lãi phát sinh chưa trả theo mức lãi suất quá hạn là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ. Buộc bị đơn bà Mai Thị H và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Sơn H, chị Nguyễn Thị H, chị Nguyễn Thị Út Q phải liên đới chịu trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng chính sách xã hội số tiền gốc còn nợ và tiền lãi phát sinh chưa trả.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng chính sách xã hội được chấp nhận nên hộ gia đình bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 5% tương ứng với số tiền phải trả nợ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 91, Điều 92, khoản 1 Điều 96, khoản 1 Điều 147, khoản 5 Điều 177, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 463, Điều 466 và Điều 468, Điều 688 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Khoản 1 Điều 6, điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam.
Buộc bà Mai Thị H, ông Nguyễn Sơn H, chị Nguyễn Thị H, chị Nguyễn Thị Út Q phải có trách nhiệm liên đới trả nợ cho Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam số tiền nợ gốc còn lại là 33.000.000 đồng (Ba mươi ba triệu đồng) và 660.731 đồng (Sáu trăm sáu mươi nghìn bảy trăm ba mươi mốt đồng) tiền lãi. Tổng số tiền cả gốc và lãi phải trả là: 33.660.731 đồng (Ba mươi ba triệu sáu trăm sáu mươi nghìn bảy trăm ba mươi mốt đồng).
Kể từ ngày 20/02/2021 hộ gia đình bà Mai Thị H còn phải tiếp tục chịu thêm khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong khế ước vay vốn cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
Về án phí: Buộc bà Mai Thị H, ông Nguyễn Sơn H, chị Nguyễn Thị H, chị Nguyễn Thị Út Q phải có trách nhiệm liên đới nộp 1.683.000 đồng (một triệu sáu trăm tám mươi ba nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014 thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự và điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Vĩnh Lộc; - Lưu hồ sơ vụ án; | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hƣơng Giang |