- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa chị Kh, anh Th và bà H, ông H"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
| T A N NH N D N HU N TH TH T NH TH B NH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2021/DS-ST Ngày: 18-6-2021 V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
N C C N H A
H CH N H A V T NAM
T A N NH N D N HU N TH TH , T NH TH B NH
Thành phần Hội đồng x t xử sơ thẩm gồm có:
- Th m phán - Ch t a phiên tòa: Bà Lê Thị Hương Lan
- Các h i th m nhân dân: Bà Vũ Thị Thúy và ông Phan Văn Tiến
- Th ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệu Thúy – Thư k Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân huy n Thái Th y: Bà Đặng Thị Xuân Mai – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa
Ngày 18 tháng 6 năm 2020, tại phòng x t x Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy x t x sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ l số 03/2021/TLST- DS ngày 02 tháng 3 năm 2021, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra x t x số 10/2021/QĐST- DS ngày 02 tháng 6 năm 2021 giữa:
Nguyên đơn:
- Chị Bùi Thị Kh, sinh năm 1979 – Có mặt
- Anh Nguyễn Trọng Th, sinh năm 1976 – Vắng mặt
Đều có địa chỉ: thôn VXĐ, TX, huyện TT, Thái Bình.
(Anh Nguyễn Tr ng Th y quyền cho chị Bùi Thị Kh tham gia tố t ng theo văn bản y quyền lập ngày 02/3/2021)
Bị đơn:
- Ông Đỗ Văn H, sinh năm 1963 – Có mặt
- Bà Lâm Thị H, sinh năm 1968 – Vắng mặt
Địa chỉ: Thôn BX, xã TX, huyện TT, tỉnh Thái Bình.
(Ông Đỗ Văn H y quyền cho bà Lâm Thị H tham gia tố t ng theo văn bản y quyền lập ngày 28/4/2021)
N DUN V N:
T i đ n kh i ki n, bản t khai và các đ n gửi Tòa án, nguyên đ n chị Bùi Thị Kh, anh Nguyễn Tr ng Th trình bày:
Do có quen biết với bà Lâm Thị H nên vào năm 2008 chị và chồng chị là anh Nguyễn Trọng Th có cho bà H, ông H vay số tiền 200.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 1,5%/tháng, để vợ chồng bà H kinh doanh, buôn bán. Tại thời điểm vay bà H có đưa 01 giấy chứng nhận quyền s dụng đất mang tên người s dụng là anh C (người ở Hải Phòng) để chị cầm làm tin chứ không lập bất cứ thỏa thuận gì về việc cầm cố hay thế chấp. Năm 2009, 2010 bà H có trả lãi mỗi lần trả lãi khoảng 3.000.000 đồng. Ngày 27/3/2011, bà H cần giấy chứng nhận quyền s dụng đất mang tên anh C nên đã đổi cho chị cầm làm tin 01 giấy chứng nhận quyền s dụng đất mang tên người s dụng là anh Ph, chị Ng (là em của bà Trịnh Thị S ở thôn Xuân Bàng), cùng ngày bà H viết biên nhận vay nợ đối với số tiền 200.000.000 đồng với là 2%/tháng và cam kết đến ngày 9/6/2011 âm lịch sẽ thanh toán đủ cả gốc lẫn lãi. Đến ngày 9/6/2011 bà H vẫn chưa trả mà tiếp tục vay lại toàn bộ số tiền 200.000.000 đồng. Ngày 12/10/2018, bà H cần giấy chứng nhận quyền s dụng đất đến hỏi chị cho lấy lại sổ chị đồng trả, bà H trả chị 40.000.000 đồng nợ gốc, còn nợ lại 160.000.000 đồng. Tính đến thời điểm này bà H đã trả cho chị khoảng 40.000.000 đồng lãi, anh, chị đã tuyên bố cho bà H, ông H toàn bộ lãi chưa trả, hai bên lập thỏa thuận vay mới với nội dung vợ chồng anh chị cho bà H, ông H vay 160.000.000 đồng (không tính lãi) đến ngày 12/10/2020. Đến ngày 12/10/2020, bà H và ông H vẫn không trả nợ như đã cam kết nên anh, chị khởi kiện yêu cầu bà Hương và ông Hoạt phải trả ngay cho anh, chị 160.000.000 đồng. Hiện anh chị không còn cầm giữ tài sản gì của bà H, ông H. Anh, chị không yêu cầu tính lãi đối với số tiền 160.000.000 đồng trong thời gian vay. Trường hợp bà H, ông H không trả được nợ thì sau khi bản án có hiệu pháp luật, chị có yêu cầu thi hành án thì bà H, ông H phải chịu lãi suất chậm thi hành án theo quy định của pháp luật.
*T i bản t khai, ý kiến t i phiên tòa s th m, bị đ n là bà Lâm Thị H trình bày (ý kiến c a bà H cũng đồng thời là ý kiến c a ông Đỗ Văn H)
Bà H xác định vợ chồng bà có vay tiền chị Kh, anh Th như lời khai của chị Kh là đúng. Hiện nay bà còn nợ chị Kh, anh Th 160.000.000 đồng. Theo giấy biên nhận ngày 12/10/2018 bà cam kết đến ngày 12/10/2020 bà trả nợ nhưng do điều kiện hoàn cảnh khó khăn làm ăn thua lỗ nên vợ chồng bà chưa trả được nợ cho chị Kh, anh Th dẫn đến việc khởi kiện. Nay bà nhận nợ số tiền 160.000.000 đồng và đề nghị được phân kỳ trả nợ, 3 tháng trả nợ một lần, mỗi lần trả 10 triệu đồng cho đến khi hết nợ.
Nguyên đơn không đồng với phương thức trả nợ mà bị đơn đề nghị nên không hòa giải được, phải đưa vụ án ra x t x .
Tại phiên tòa, kiểm sát viên phát biểu về tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng x t x kể từ khi thụ l vụ án đến trước thời điểm Hội đồng x t x vào nghị án đều đúng quy định. Về nội dung vụ án: đề nghị áp dụng các Điều 463; 466 Bộ luật dân sự chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn toàn bộ số tiền 160.000.000 đồng, nguyên đơn không yêu cầu tính lãi. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH C A H ĐỒN ÉT Ử:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng x t x nhận định:
[1] Về tố tụng:
Tranh chấp giữa nguyên đơn với bị đơn là tranh chấp hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Nguyễn Trọng Th ủy quyền cho chị Bùi Thị Kh tham gia tố tụng, ông Đỗ Văn H ủy quyền cho bà Lâm Thị H tham gia tố tụng nên theo quy định tại khoản 1 Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự, x t x vụ án vắng mặt anh Th, ông H.
[2]. X t yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Chị Kh, anh Th và bà H, ông H đều là những người có đủ năng lực hành vi dân sự; Giấy vay nợ các bên lập ngày 12/10/2018 được hai bên thừa nhận. Thỏa thuận vay nợ hoàn toàn tự nguyện; nội dung và mục đích theo thỏa thuận không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội vì vậy phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.
[2.2] Bà H, ông H thừa nhận còn nợ chị Kh, anh H 160.000.000 đồng nhưng đề nghị trả theo kỳ 3 tháng 1 lần, mỗi lần 10 triệu cho đến khi hết nợ nhưng chị Kh và anh Th không đồng . Trong thỏa thuận vay nợ không thỏa thuận phương thức thanh toán, nay thời hạn vay đã hết nên anh Th, chị Kh khởi kiện yêu cầu bà H phải trả nợ toàn bộ khoản vay là có cơ sở. Yêu cầu khởi kiện của chị Kh, anh H là phù hợp với các Điều 463, 466 Bộ luật dân sự nên chấp nhận. Buộc bà H và ông H phải trả cho chị Kh và anh Th toàn bộ số tiền 160.000.000 đồng. Chị Kh và anh Th không yêu cầu tính lãi đối với khoản vay, đề nghị được ghi nhận về việc được tính lãi chậm thi hành án là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho nguyên đơn tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các l trên,
QuyÕt ®Þnh:
Căn cứ vào: Khoản 4 Điều 147; Điều 244; Điều 217; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các điều 463, 466 Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản l và s dụng án phí và lệ phí:
1. Chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị Kh và anh Nguyễn Trọng Th: Buộc bà Lâm Thị H và ông Đỗ Văn H phải trả cho chị Bùi Thị Kh và anh Nguyễn Trung Th số tiền còn nợ là 160.000.000 đồng .
2. Về án phí: Bà Lâm Thị H và ông Đỗ Văn H phải chịu 8.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho chị Kh, anh Th 4.000.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0001979 ngày 02/3/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thái Thụy
3. QuyÒn kh¸ng c¸o:
Chị Kh, bà H có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Anh Th, ông H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hợp lệ bản án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật s a đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 9 Luật thi hành án dân sự; điều 7 Luật s a đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
TM.H ĐỒN ÉT Ử SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đ ng s ; - VKSND huy n Thái Thuỵ; - VKSND tỉnh Thái Bình - TAND tỉnh Thái Bình - Thi hành án dân s huy n Thái Th y - L u hồ s | THẨM PH N - CH TOẠ PH ÊN TOÀ Lê Thị Hương Lan |