- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Mạc Văn L - Lê Văn Đ"
- Căn cứ chính? Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố Tụng Dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật Tố Tụng Dân sự Tòa án
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BẾN TRE Bản án số: 03/2021/DS- ST Ngày 06/01/2021 V/v: “Tranh chấp BTTH do sức khỏe bị xâm phạm ” |
NHÂN DANH
N ỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
T A ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M CÀY NAM, T NH B N T E
Với thành ph n H i đ ng xét x s th m g m có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Phong
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thu Hồng.
Ông Nguyễn Văn Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Lài- Thư ký Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Bến Tre.
Trong ngày 06 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 199/2020/TLST-DS ngày 05 tháng 10 năm 2020 về việc “tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 341/2020/QĐST-DS ngày 08 tháng 12 năm 2020 và quyết định hoãn phiên tòa số: 370 ngày 28/12/2020 giữa:
* Nguyên đ n: Mạc Văn L, sinh 1975 (có yêu cầu xét xử vắng mặt)
Trú tại: Ấp Ph, xã A, huyện M, tỉnh Bến Tre.
* Bị đ n: Lê Văn Đ, sinh 1973(vắng mặt không có lý do)
Trú tại: Ấp Ph, xã A, huyện M, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Mạc Văn L trình bày: Vào chiều ngày 18/5/2020 tôi đi bẩy chuột trên đất anh Đ Văn Chiến giáp ranh đất ông Lê Văn Đ thì ông Đ chửi dùng gạch chọi vào lưng tôi, tôi bỏ chạy thì Đ đuổi theo đạp vào lưng, đánh vào mặt, ngực, đầu tôi gây thương tích, sau khi bị đánh tôi phải điều trị tại bệnh viện đa khoa Minh Đức Bến Tre hết 1.611.271 đồng tiền thuốc.
Nay yêu cầu ông Đ bồi thường cho tôi gồm các khoản:
+ Tiền mất thu nhập do tôi không lao động được 03 ngày, mỗi ngày 240.000 đồng.
Tiền chi phí điều trị 1.611.271 đồng
Tổng cộng các khoản 2.331.271 đồng. Đối với các khoản chi phí khác không yêu cầu bồi thường.
Bị đơn Lê văn Đ đã được Tòa án triệu tập xét xử 02 lần hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có bất cứ lời trình bày nào trong các giai đoạn tố tụng của Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA T A ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận thấy:
* Về áp dụng pháp luật tố tụng:
[1] Về quyền khởi kiện: Anh L cho rằng quyền lợi của anh bị xâm phạm bởi hành vi gây thiệt hại về sức khỏe của anh Đ đối với anh, nên khởi kiện. Căn cứ khoản 2 điều 68, điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự thì anh L có quyền khởi kiện.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Đối với yêu cầu của anh L là tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm. Căn cứ khoản 6 điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự thì loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và nơi cư trú của bị đơn thuộc xã An Định, huyện M. Căn cứ điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện M thụ lý giải quyết là phù hợp pháp luật.
[3] Bị đơn Lê Văn Đ đã được Tòa án triệu tập xét xử 02 lần hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điều 227, 228 Bộ luật Tố Tụng Dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
* Về n i dung giải quyết vụ án:
[1] Mặc dù quá trình Tòa án thụ lý giải quyết bị đơn Lê Văn Đ không có bất cứ lời trình bày nào thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn gửi Tòa án, nhưng căn cứ vào hồ sơ xử lý hành chính do ủy ban nhân dân xã An Định cung cấp đã có đủ cơ sở khẳng định: Sự việc đánh nhau giữa anh Đ với anh L được hai bên thừa nhận là có thật, Sau khi xảy ra sự việc đánh nhau, phía anh Đ đã bị ủy ban nhân dân xã An Định xử phạt hành chính với số tiền 2.500.000 đồng về hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác và khi nhận được quyết định xử phạt anh Đ không thắc mắc khiếu nại gì đối với quyết định xử phạt hành chính của Ủy ban nhân dân xã An Định. Do đó thương tích để lại trên cơ thể anh L lỗi hoàn toàn thuộc về anh Đ, nên anh Đ phải có trách nhiệm bồi thường.
[2] Đối với các khoản yêu cầu bồi thường của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:
+ Đối với khoản tiền mất thu nhập do không lao động được: Căn cứ các chứng từ nguyên đơn điều trị tại bệnh viện thể hiện rỏ nguyên đơn đã điều trị tại Bệnh viện tổng cộng 03 ngày (từ ngày 18/5/2020 đến ngày 20/5/2020), trong 03 ngày này thì người bệnh không thể lao động để tạo thu nhập, mức 240.000 đồng/ngày là mức thu nhập của lao động phổ thông tại địa phương, nên nguyên đơn yêu cầu bồi thường là có căn cứ,
+ Đối với khoản tiền chi phí điều trị: Căn cứ vào vào hóa đơn chứng từ mà anh L đã điều trị tại Bệnh viện Minh Đức, thì tổng số tiền chi phí điều trị là 1.587.000 đồng. Do đó chỉ chấp nhận ở mức chi phí này.
+ Đối với các khoản thiệt hại khác nguyên đơn không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
[3] Do anh Đ có lỗi trong việc gây thiệt hại về sức khỏe cho cho anh L, nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUY T ĐỊNH
Áp dụng điều 584, 590 Bộ luật dân sự; khoản 2 điều 26 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu của anh Mạc Văn L. Buộc anh Lê Văn Đ bồi thường cho anh Mạc Văn L số tiền 2.307.000 đồng (trong đó tiền mất thu nhập 720.000 đồng, tiền chi phí điều trị 1.587.000 đồng).
Không chấp nhận yêu cầu của anh L về việc yêu cầu bồi thường số tiền chi phí điều trị còn lại 24.271 đồng.
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, khi có đơn yêu cầu thi hành án của anh L, nếu anh Đ chưa thi hành xong các khoản tiền phải thi hành án thì còn phải chịu tiền lãi theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Án phí dân sự sơ thẩm: anh Lê Văn Đ phải chịu 300.000 đồng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi ành án dân sự năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2014.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án. N i nhận:
| - TAND Bến Tre (1b); - VKSND huyện M (2b); - Chi cục THADS huyện M(1b); - Những người tham gia tố tụng (2b); - Lưu HS, VP, THA (4b). | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Thanh Phong |