vanban.org

Bản án 03/2020/HSST — Hình sự

TAND Q. Thốt Nốt, TP. Cần Thơ Tuyên án 08/01/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Hồng Phước T phạm tội “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
!!!!!!!!! !
QUẬN!THỐT!NỐT
!!!!!!!TP.!CẦN!THƠ!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!
Số bản án: 03/2020/HSST
Ngày: 08/01/2020.

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!!QUẬN!THỐT!NỐT!-!THÀNH!PHỐ!CẦN!THƠ!

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Ngọc Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Gốc!

2. Bà Thái Ánh Trinh!

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Hồng Quốc Vệ - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 127/2019/HSST ngày 16 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2019/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2019 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ đối với bị cáo:

Hồng! Phước! T! (Đầu! Bự)! – Sinh năm: 1994; Nơi cư trú: Khu vực A, phường B, quận C, thành phố Cần Thơ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông Hồng Phước B – sinh năm: 1976 (chết) và bà Nguyễn Thị Hồng K – sinh năm: 1975 (sống); Chị, em ruột: Có 02 người (Lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 1999); Tiền sự: Không; Tiền án (01 lần): Vào ngày 17/9/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 04 (bốn) năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/11/2018, đã đóng xong án phí hình sự sơ thẩm; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/9/2019.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Người bị hại: Ông Nguyễn!Trọng!H!– sinh năm:1988 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu vực D, phường E, quận C, thành phố Cần Thơ.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Trần!Văn!K3!– sinh năm: 1987 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp F, xã K, huyện L, tỉnh An Giang.

2/ Ông Nguyễn!Hoàng!K2!– sinh năm: 1964 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp M, xã N, huyện O, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ ngày 17/4/2019, Hồng Phước T đi rước bạn gái đang bán tiếp quán cà phê trên địa bàn phường B thì gặp được một người bạn tên T2 (không rõ họ tên, địa chỉ). Sau đó, T2 điều khiển xe mô tô biển số 66L1-241.97 chở T, còn 02 người bạn của T2 thì đi chung trên xe mô tô biển số 67L8-2824, rồi chạy trên tuyến Quốc lộ 91 hướng về cầu Cần Thơ Bé để tìm tài sản trộm, nếu ai để sơ hở sẽ lấy trộm. Khi đến đoạn đường thuộc khu vực D, phường E, quận C thì T2 phát hiện 01 con gà trống màu xanh, loại gà nội đang úp trong bội gà để phía sau nhà của anh Nguyễn Trọng H không ai trông coi nên T2 kêu T đi vào bắt trộm gà, T liền chui qua hàng rào tre và đi vào sân của anh H rồi dở bội lên bắt trộm con gà rồi đi ra đưa gà cho 02 người bạn của T2 thì bị người dân phát hiện và tri hô đuổi bắt T cùng tang vật.

Tang vật thu giữ gồm: 01 con gà trống màu xanh, loại gà nồi nặng 3,3kg; 01 xe mô tô biển số 66L1-241.97; 01 xe mô tô biển số 67L8-2824.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 30/BKL-HĐĐGTS ngày 13/5/2019 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân quận Thốt Nốt kết luận: 01 con gà trống màu xanh, loại gà nồi cân nặng 3,3kg trị giá 396.000đ.

Quá trình điều tra, anh Nguyễn Trọng H đã nhận lại được 01 con gà bị mất trộm và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Đối với 01 xe mô tô biển số 66L1-241.97, T khai là của đối tượng tên T2, qua tra cứu thông tin đăng ký xe xác định người đứng tên giấy đăng ký xe là Nguyễn Hoàng K2 nhưng anh K2 trình bày đã bán xe trên bán cho một người đàn ông (không rõ họ tên) vào năm 2017 nhưng không làm thủ tục sang tên, hiện nay anh không có yêu cầu gì đối với xe nêu trên.

Đối với 01 xe mô tô biển số 67L8-2824, qua tra cứu thông tin đăng ký xe xác định người đứng tên giấy đăng ký xe là anh Trần Văn Tăng. Qua xác minh tại địa phương nơi anh Tăng sinh sống thì anh Tăng đã chết vào khoảng năm 2012.

Đối với đối tượng tên T2 và 02 người thanh niên đi chung với T2 do không xác định được nhân thân, địa chỉ cụ thể nên không tiến hành làm việc được, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ nếu có căn cứ sẽ xem xét xử lý sau.

Tại cáo trạng số 02/CT-VKS ngày 11/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo Hồng Phước T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, thống nhất với cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố, không bổ sung gì thêm, đồng thời đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên xử: Bị cáo Hồng Phước T phạm tội“Trộm cắp tài sản”

Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Hồng Phước T từ 01 (một) năm đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/9/2019.

Hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo do không có nghề nghiệp ổn định.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Đối với 02 xe mô tô biển số 66L1-241.97 và xe biển số 67L8-2824 giao cho cơ quan điều tra công an quận Thốt Nốt tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý theo quy định pháp luật.

Công nhận Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn Trọng H 01 con gà bị mất trộm và anh H không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Đối với đối tượng tên T2 và 02 người thanh niên đi chung với T2 do không xác định được nhân thân, địa chỉ cụ thể nên không tiến hành làm việc được, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ nếu có căn cứ sẽ xem xét xử lý sau.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, bị cáo đã biết ăn năn hối cải, hứa không còn tái phạm nữa.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ:!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:!

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an quận Thốt Nốt, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2] Trong điều tra và qua thẩm tra, đối chất tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo cơ bản phù hợp nhau, phù hợp với các chứng cứ như các biên bản về hoạt động điều tra, biên bản định giá tài sản, biên bản ghi lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, v.v…

Như vậy, có cơ sở xác định vào khoảng 12 giờ ngày 17/4/2019, bị cáo gặp tên T2 (không rõ họ tên, địa chỉ) theo bị cáo khai là bạn và tên Tấn điều khiển xe mô tô biển số 66L1-241.97 chở bị cáo, còn 02 người bạn của T2 thì đi chung trên xe mô tô biển số 67L8-2824, chạy trên tuyến Quốc lộ 91 hướng về cầu Cần Thơ Bé tìm tài sản để trộm. Khi đến đoạn đường thuộc khu vực D, phường E, quận C thì T2 phát hiện 01 con gà trống màu xanh, loại gà nội đang úp trong bội gà để phía sau nhà của anh Nguyễn Trọng H không ai trông coi nên T2 kêu bị cáo đi vào bắt trộm gà thì bị người dân phát hiện bắt quả tang. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 30/BKL-HĐĐGTS ngày 13/5/2019 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân quận Thốt Nốt kết luận: 01 con gà trống màu xanh, loại gà nồi cân nặng 3,3kg trị giá 396.000đ. Tuy giá trị tài sản trộm chưa đủ mức khởi tố nhưng do bị cáo đã có tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích nhưng bị cáo tiếp tục trộm cắp tài sản nên hành vi của bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, việc đưa ra truy tố và xét xử bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội.

Xét bản thân bị cáo là người thanh niên có sức khỏe và khả năng lao động nhưng bị cáo không biết tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà có tính tham lam, mong muốn có tài sản mà không phải bỏ công sức lao động, vì vậy, bị cáo lợi dụng sự sơ hở của người bị hại để trộm cắp tài sản nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Về nhân thân bị cáo rất xấu đã nhiều lần bị kết án về hành vi trộm cắp tài sản nhưng bản thân bị cáo không có thiện chí sửa đổi như vào ngày 25/11/2011, bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản đã được xóa án tích; vào ngày 25/02/2014, bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xử phạt 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản đã được xóa án tích; vào ngày 17/9/2015, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 04 năm tù về tội trộm cắp tài sản chưa xóa án tích, bị cáo lại tiếp tục phạm tội trộm cắp tài sản, điều này cho thấy bị cáo rất xem thường pháp luật, ý thức sửa đổi bản thân là rất kém. Hơn nữa, quá trình điều tra bị cáo lại bỏ trốn bị bắt theo quyết định truy nã nên hình phạt dành cho bị cáo phải thật nghiêm để tiếp tục giáo dục bị cáo. Khi lượng hình, Hội đồng xét xử có xem xét thái độ của bị cáo trong điều tra cũng như tại phiên tòa thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn, hối cải; nghề nghiệp không ổn định; giá trị tài sản bị cáo trộm không lớn và người bị hại đã nhận lại tài sản xong, không có yêu cầu gì thêm, bị cáo không biết chữ nên nhận thức pháp luật có hạn chế để xem xét mức hình phạt cho bị cáo.

[3] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nghĩ nên miễn cho bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng và các vấn đề khác: Theo như nhận định và đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[5] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:!

Tuyên!xử: Bị cáo Hồng Phước T phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Hồng!Phước!T!01!(một)!năm!06!(sáu)!tháng!tù.

Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 28/9/2019.

Hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Công nhận Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn Trọng H 01 con gà bị mất trộm và anh H không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

- Đối với 02 xe mô tô biển số 66L1-241.97 và xe biển số 67L8-2824 giao cho cơ quan điều tra công an quận Thốt Nốt tiếp tục làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với đối tượng tên T2 và 02 người thanh niên đi chung với T2 do không xác định được nhân thân, địa chỉ cụ thể nên không tiến hành làm việc được, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ nếu có căn cứ sẽ xem xét xử lý sau.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội .

Bị cáo phải nộp số tiền 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ