vanban.org

Bản án 03/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Kon Rẫy , tỉnh Kon Tum Tuyên án 13/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo A S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

p dụng Khoản 1 Điều 173, Điều 38, các điểm h, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017; Xử phạt bị cáo A S 09 (ch n) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị b t tạm giam 07/11/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo A S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KON RẪY
TỈNH KON TUM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03 /2020/HS-ST
Ngày 13/02/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KON RẪY, TỈNH KON TUM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Loan;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Ngọc Tần.

2. Bà Y H Liêu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đăng Lễ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kon Rẫy tham gia phiên tòa:

Ông Đinh Thế Long - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2019/ TLST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2019 (chuyển thụ lý số: 03/2020/HS-ST ngày 01/01/2020); theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2020/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2020/HSST- QĐ ngày 21/01/2020 đối với bị cáo:

- Họ tên: A S; Tên gọi khác: Không có; sinh ngày 02 tháng 5 năm 2000 tại xã ĐTR, huyện KonPlong (nay là huyện Kon Rẫy , tỉnh Kon Tum; nơi cư tr : Thôn 07, xã ĐTR, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Ba Na; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông A M và bà Y B (đã chết ; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 20/03/2018, bị cáo A S bị Tòa án nhân dân huyện Kon Rẫy xét xử về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 138 BLHS năm 1999 và bị xử phạt 03 tháng 26 ngày tù. Tuy nhiên, vào thời điểm phạm tội này thì A S là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, nên theo qui định tại điểm b, khoản 1 Điều 107 Bộ luật hình sự năm 2015, bị cáo được coi là không có án tích. Bị cáo bị b t tạm giam từ ngày 07 tháng 11 năm 2019 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

-Người bào chữa cho bị cáo A S: Bà Đặng Thị Kim Nguyệt – Trợ gi p viên pháp lý của Trung tâm trợ gi p pháp lý Nhà nước tỉnh Kon Tum.

Địa chỉ: 211 Trần Hưng Đạo, phường Thống Nhất, thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum (có mặt .

- Bị hại: Trường Mầm non H M;

Địa chỉ: Thôn 07, xã ĐTR, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum.

Người đại diện hợp pháp của bị hại : Bà V T S(Hiệu Trưởng , sinh năm

1971;

Địa chỉ: 38 Nguyễn V C, phường Q, TP. Kon Tum, tỉnh Kon Tum. (V ng

mặt, có đơn xin xét xử v ng mặt .

- Người làm chứng:

+ Anh A Ch, sinh ngày 04/02/2004 ;

+ Người đại diện hợp pháp cho anh A Ch: Chị Y X, sinh năm:1996;

Cùng tr tại: Thôn 07, xã ĐTR, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum. (Đều có

mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 23/09/2019, A Ch đi bộ đến nhà bị cáo A S để chơi. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, bị cáo rủ A Ch “Mày đi theo tao, đi qua trường mầm non H M tìm bánh kẹo ăn” thì A Ch đồng ý. Sau đó, cả hai đi bộ đến trường mầm non H M (thuộc Thôn 07, xã ĐTR, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum . Đến nơi, A S đi trước, A Ch đi sau, cùng nhau trèo qua cổng s t vào trong khuôn viên nhà trường. Đến phòng làm việc của bà V T S (Hiệu trưởng trường mầm non H M), thấy cửa phòng chỉ đóng nhưng không khóa nên A S mở cửa và cùng với A Ch đi vào phòng của bà T S mở các ngăn tủ và thùng giấy lục tìm bánh kẹo để ăn. Sau đó, A S đi đến bàn làm việc của bà T S kéo ngăn hộc bàn ra phát hiện có 01 loa nghe nhạc Mi ni, kết nối bằng Bluetooth, nhãn hiệu Harman kardon, màu đen – xám, hình tròn, A S cầm loa đặt lên bàn và hỏi A Ch “có lấy không”, A Ch nói “lấy”. A S lấy chiếc loa đi trước, A Ch cầm bánh kẹo đi theo sau ra phía sau trường mầm non trèo qua tường rào ra ngoài. Khi về đến nhà của A S thì A Ch nói: “Anh Sáu, bán loa này lấy tiền tiêu” và được A S đồng ý nhưng do đã khuya nên hai người không đi bán mà cùng nhau mở loa để nghe nhạc. Đến khoảng 23 giờ thì A Ch đi về nhà của mình, còn A S đi ngủ.

Sáng ngày 24/9/2019, bà V T S đến cơ quan làm việc thì phát hiện đồ đạc trong phòng bị lục soát và mất 01 loa nghe nhạc nên đã làm đơn trình báo sự việc đến Công an xã ĐTR. Công an xã ĐTR đã kịp thời kiểm tra phát hiện A S đang cất giữ loa bị mất trộm trong nhà của mình nên đã tiến hành thu giữ.

Bản kết luận định giá tài sản là tang vật của vụ án số: 12/ HĐĐG ngày 11/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Kon Rẫy kết luận: 01 Loa nghe nhạc không dây, nhãn hiệu Harman kardon, model, màu: đen – xám, Onyx studio 5, nguồn sạc: 19V/2A, công suất: 50W Bi – amp, tần số 50Hz – 20 kHz, kết nối bằng Bluetooth, kích thước ( 28,4 x 29,1 x 12,8 cm, trọng lượng 2,98 kg, sản xuất tại: Trung Quốc. Loa nghe nhạc được tặng vào tháng 02/2019 và tỷ lệ chất lượng mới 100%. Khi xảy ra vụ trộm, loa nghe nhạc hoạt động bình thường và có tỷ lệ chất lượng còn lại là 95%, có giá trị xác định: 4.300.000 đồng ( Bốn triệu ba trăm nghìn đồng)

Tại bản cáo trạng số: 01/CT-VKS ngày 26/12/2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Kon Rẫy đã quyết định truy tố bị cáo A S ra trước Tòa án nhân dân dân huyện Kon Rẫy để xét xử sơ thẩm về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo nội dung Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm h, s khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, tuyên bị cáo A S phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị xử phạt bị cáo A S từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự, bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường thêm nên không xem xét. Về xử lý vật ch ng: Vật ch ng trong vụ án 01 loa nghe nhạc Mini, kết nối bằng Bluetooth, nhãn hiệu Harman kardon, màu đen – xám, hình tròn, đã được cơ quan điều tra trả lại cho bị hại đ ng quy định của pháp luật nên không xem xét.

Người bào chữa cho bị cáo có ý kiến nhất trí với tội danh và điều luật như Viện kiểm sát đề nghị nhưng có đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; tài sản trộm c p đã được thu hồi trả cho bị hại, đại diện hợp pháp cho bị hại có đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo ; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm hoàn cảnh bị cáo mồ côi mẹ, em bị mù và áp dụng các điểm h, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi lượng hình, xử phạt bị cáo m c án 06 tháng tù.

Người đại diện hợp pháp của bị hại v ng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Kon Rẫy, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện Kon Rẫy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Tại phiên tòa, bị cáo A S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại, người làm ch ng c ng như các ch ng c , tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Vào khoảng 22 giờ ngày 23/9/2019, để phục vụ nhu cầu bản thân, bị cáo A S đã rủ A Ch đi đến trường mầm non H M (thuộc Thôn 07, xã ĐTR, huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum) nhằm trộm c p tài sản. Khi thấy cửa phòng của bà T S (Hiệu trưởng chỉ đóng nhưng không khóa, bị cáo đã mở cửa và cùng với A Ch đột nhập vào phòng, lục lọi, lấy trộm một số bánh kẹo và 01 loa nghe nhạc Mi ni, kết nối bằng Bluetooth, nhãn hiệu Harman kardon, màu đen – xám, hình tròn đem về nhà cất giấu. Trong khi chưa kịp thực hiện ý định bán lấy tiền tiêu xài cá nhân thì bị phát hiện. Trị giá tài sản trộm c p được định giá là 4.300.000 đồng ( Bốn triệu, ba trăm nghìn đồng). Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo A S đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017. Viện kiểm sát nhân dân huyện Kon Rẫy truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đ ng người, đ ng tội, đ ng pháp luật.

Xét tính chất, m c độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi của bị cáo A S đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của Trường mầm non H M, gây khó khăn cho nhà trường về kinh tế và trở ngại đến hoạt động giáo dục của nhà trường, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần bị xử phạt thích đáng để răn đe và phòng ngừa chung.

Về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Bị cáo A S có nhân thân xấu, khi chưa đủ 18 tuổi, bị cáo đã bị xử phạt tù về hành vi trộm c p tài sản nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để cải tạo bản thân mà còn tiếp tục thực hiện hành vi trộm c p tài sản và x i giục người khác cùng phạm tội nên cần phải xét xử bị cáo m c án tương x ng với tính chất, m c độ hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo và giáo dục bị cáo.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử c ng xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo phạm tội nhưng tài sản chiếm đoạt đã được hoàn trả ngay cho chủ sở hữu nên được xem như phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại. Đồng thời, đại diện hợp pháp của bị hại có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các điểm h, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo trong khi lượng hình để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Ngoài ra trong vụ án này, còn có A Ch cùng với bị cáo A S thực hiện hành vi trộm c p tài sản, nhưng tính đến ngày hiện hành vi phạm tội, A Ch chỉ mới 15 tuổi 07 tháng 19 ngày (Sinh ngày 04/02/2004) nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Công an huyện Kon Rẫy ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình th c cảnh cáo đối với A Ch là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật ch ng:

Vật ch ng trong vụ án là 01 loa nghe nhạc không dây, nhãn hiệu: Harman Kardon, model, màu: đen – xám, Onyx studio 5, kết nối bằng Bluetooth, kích thước ( 28,4 x 29,1 x 12,8 cm, trọng lượng 2,98 kg, sản xuất tại: Trung Quốc. Sau khi điều tra làm rõ vụ án, Cơ quan CSĐT – Công an huyện Kon Rẫy đã trả lại cho chủ sở hữu là Trường Mầm non H M. Việc cơ quan điều tra trả lại tài sản cho chủ sở hữu là đ ng pháp luật nên Hội đồng xét xử không giải quyết lại.

Về án phí: Bị cáo A S là dân tộc thiểu số sống trong vùng đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo A S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

p dụng Khoản 1 Điều 173, Điều 38, các điểm h, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017;

Xử phạt bị cáo A S 09 (ch n) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị b t tạm giam 07/11/2019.

2. Về án phí:

Căn c điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2015 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo A S.

3. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (13/02/2020). Đại diện hợp pháp của bị hại v ng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. N i nh n:

TM HỘI Đ NG X T X S TH M

- TAND tỉnh Kon Tum;

TH M PHÁN – CHỦ T A PHI N TÒA

- VKSND tỉnh Kon Tum;

- VKSND huyện Kon Rẫy;

- Chi cục THA huyện Kon Rẫy;

- CQ CSĐT CA huyện Kon Rẫy;

- Nhà tạm giữ CA huyện Kon Rẫy;

- UBND xã ĐăkTờRe, huyện Kon Rẫy;

Lê Th hương Loan

- Bị cáo;

- Người bào chữa;

- Bị hại;

- Lưu HS./.

Cỡ chữ