vanban.org

Bản án 03/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh Tuyên án 18/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lâm Tân Tr phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lâm Tân Tr 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 22- 01-2020. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Lê Thị Ngọc Tr không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lâm Tân Tr phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THỊ XÃ DUYÊN HẢI
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:03/2020/HS-ST
Ngày 18-02-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Trưng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phan Thái Hùng

Ông Dương Quốc Võ

- Thư ký phiên tòa: Ông Thạch Rine, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Lê Anh Khoa- Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnhTrà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 13/2019/TLST-HS ngày18 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 18/2019/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2019/HSST-QĐ ngày 07 tháng 6 năm 2019; Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 24/2019/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2019 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 01/2020/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Lâm Tân Tr, sinh năm 1982 tại Trà Vinh.

Nơi cư trú: ấp Đại T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo:công giáo; quốc tịch:Việt Nam; con ông Lâm Ngọc T và bà Trần Thị Th; bị cáo có vợ Lâm Ngọc H, sinh năm 1986 (đã ly hôn); có 01 người con sinh năm 2010; tiền án: 02 lần. Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2011/HSST ngày 20-01-2011 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản và lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 13-7-2012; Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2014/HSST ngày 19-7-2014 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh xử phạt 03 năm tù về tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 23-01-2017, chưa được xóa án tích; tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/3/2019 đến ngày 06/5/2019; bị bắt tạm giữ từ ngày 22/01/2020, tạm giam ngày 23/01/2020 cho đến nay; Có mặt.

- Bị hại: Bà Lê Thị Ngọc Tr, sinh năm 1986. Nơi cư trú: khóm A, phường B, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. Có đơn xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Cáo Tr số 14/CT-VKS-HS ngày 18 tháng 4 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh truy tố bị cáo Lâm Tân Tr về tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự. Hành vi bị cáo Lâm Tân Tr bị truy tố như sau: Vào khoảng 09 giờ ngày 16/02/2019 bị cáo Lâm Tân Tr, sinh năm 1982, cư trú ấp Đại T, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh thuê xe ôm đến cửa hàng Năm Lạc do bà Lê Thị Ngọc Tr, sinh năm 1986, cư trú khóm 1, phường 2, thị xã Duyên Hải làm chủ. Khi đến cửa hàng Năm Lạc là khoảng 10 giờ 10 phút cùng ngày, bị cáoTr kêu xe ôm đợi ở ngoài còn bị cáoTr đi đến gần quầy tính tiền và nói với bà Tr “tôi là lính của thằng T, lấy cho thằng T 02 cái mô tưa”. Bà Tr hỏi “T Quốc Dũng hả”, thì bị cáoTr trả lời “ừ”. Bà Tr hỏi “hiệu gì”, bị cáoTr trả lời “hiệu VTC”. Bà Tr tiếp tục hỏi “mấy ngựa”, thì bị cáoTr trả lời “loại 3 ngựa 3 pha”. Sau đó, bà Tr kêu Nguyễn Chí Tuyền là người giúp việc cho bà Tr lấy 02 cái mô tưa hiệu VTC loại 3 ngựa 3 pha giao cho bị cáoTr và bị cáo Tr mang ra xe. Tiếp tục, bị cáo Tr đi vào nhận 01 cái mô tưa thứ 2 của Tuyền giao cho rồi mang ra xe. Bị cáoTr để 01 cái mô tưa trước ba ga xe, còn 01 cái bị cáoTr ngồi phía sau ôm rồi kêu xe ôm chạy về hướng Trà Vinh. Khi đến gần cầu Hiệp Mỹ, cách khoảng 500 mét, bị cáo Tr nhìn thấy bên tay phải có tiệm sửa mô tưa hiệu Đăng Kh thuộc ấp G, xã Hiệp M, huyện C do ông Lê Đăng Kh làm chủ. Bị cáo Tr bán 02 mô cho ông Kh với giá 4.000.000đ. Sau đó, bị cáoTr trả tiền xe ôm 150.000 đồng, số tiền còn lại bị cáoTr trả nợ và tiêu xài cá nhân hết. Bà Lê Thị Ngọc Tr sau khi giao 02 mô tưa cho Tr nhưng không nghe nói gì đến chuyện tiền bạc, thấy nghi ngờ nên bà Tr điện thoại cho Võ Quốc T, sinh năm 1992, ngụ khóm A, phường B, thị xã D là khách quen của cửa hàng thì được T trả lời là không có nhờ ai lấy dùm 02 mô tưa. Biết là bị lừa nên bà Tr trình báo Công an.Trong quá trình điều tra, bị cáo Lâm Tân Tr đã thừa nhận T bộ hành vi phạm tội nêu trên.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Duyên Hải đã thu giữ, sau đó trả lại tài sản cho bà Lê Thị Ngọc Tr 02 cái mô tưa có cùng đặc điểm hiệu VTC YUNG SHUN, màu xám, loại 3 ngựa, 3 pha, chưa qua sử dụng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐG ngày 21/02/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Duyên Hải kết luận: 02 cái mô tưa điện có cùng đặc điểm hiệu VTC YUNG SHUN, màu xám, loại 3 ngựa, 3 pha, chưa qua sử dụng có giá: 4.640.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Lê Thị Ngọc Tr đã nhận lại được tài sản, ông Lê Đăng Kh đã nhận được số tiền 4.000.000 đồng do bị cáo bồi thường nên không có yêu cầu gì khác.

Đối với ông Lê Đăng Kh khi mua 02 mô tưa do bị cáo Lâm Tân Tr bán lại nhưng ông Kh không biết 02 mô tưa này là do bị cáo Tr phạm tội mà có nên không truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Lâm Tân Tr thừa nhận do trước đây bị cáo làm thuê cho ông T và đã nhiều lần đến cửa hàng Năm Lạc lấy đồ phục vụ nuôi tôm cho ông T nên lợi dụng danh nghĩa của ông T, bị cáoTr đã nói dối bà Tr là lấy đồ dùm cho ông T rồi chiếm đoạt 02 mô tưa nêu trên như cáo Tr truy tố. Sau khi nhận cáo Tr truy tố bị cáo đã bỏ khỏi nơi cư trú, mặc dù bị cáo biết đi khỏi nơi cư trú là vi phạm nghĩa vụ của việc cam đoan nhưng bị cáo vẫn có tình đi khỏi địa phương. Đến ngày 22/01/2020 bị cáo bị Cơ quan cảnh sát công an điều tra thị xã Duyên Hải bắt tại Sân bay Quốc tế Tân Sơn Nhất, thành phố Hồ Chí Minh.

Bị hại bà Lê Thị Ngọc Tr vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt không yêu cầu bồi thường và về trách nhiệm hình sự xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị với Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Lâm Tân Tr từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù. Về dân sự bị hại không yêu cầu về phần trách nhiệm dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Bị cáo và Kiểm sát viên không có tranh luận, đối đáp với nhau;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thẩm tra các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thấy rằng các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên là đúng quy định pháp luật. Những người tham gia tố tụng không khiếu nại về hành vi, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Vì vậy, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Lời khai và nhận tội của bị cáo Lâm Tân Tr tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 10 giờ 10 phút ngày 16/02/2019, tại cửa hàng Năm Lạc thuộc khóm 1, phường 2, thị xã Duyên Hải, Lâm Tân Tr đã dùng lời nói gian dối là lấy giùm cho T 02 cái mô tưa nhằm lừa bà Lê Thị Ngọc Tr chiếm đoạt 02 mô tưa điện có cùng đặc điểm hiệu VTC YUNG SHUN, màu xám, loại 3 ngựa, 3 pha, chưa qua sử dụng với tổng giá trị tài sản là 4.640.000đ. Hành vi của Lâm Tân Tr đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác nên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Khi thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản bị cáo nhận biết hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật. Mặc dù bị cáo đã có một lần tiền án tái phạm và với 02 tiền án đều chưa xóa án tích nay lại tiếp tục tái phạm. Do đó đủ căn cứ kết luận bị cáo Lâm Tân Tr phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy quan điểm buộc tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác và gây mất trật tự xã hội ở địa phương. Bị cáo đã đưa ra thông tin gian dối, lợi dụng lòng tin của chủ sở hữu để chiếm đoạt tài sản. Bị cáo là người có sức khỏe, có khả năng lao động, đã có 02 lần chấp hành xong hình phạt tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nhưng bị cáo không tu chí làm ăn, trở thành người công dân tốt. Chỉ vì bị cáo muốn có tiền tiêu xài mà không phải bỏ công lao động nên bị cáo đã tiếp tục lừa đảo để lấy được tiền tiêu xài. Trong quá trình phạm tội bị cáo được áp dụng biện pháp cấm khỏi nơi cư trú nhưng bị cáo không chấp hành lại bỏ trốn khỏi địa phương cho thấy bị cáo thể hiện thái độ coi thường kỷ cương pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, sau khi nhận được Cáo Tr của Viện kiểm sát và chuẩn bị Quyết định đưa vụ án ra xét xử, sợ bị lãnh án bị cáo đã bỏ trốn khỏi địa phương, hành vi trốn tránh của bị cáo đã gây khó khăn cho việc việc điều tra xét xử.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa hôm nay và tại cơ quan điều tra bị cáo khai báo thành khẩn, khắc phục T bộ hậu quả thiệt hại xảy ra xong cho bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về quyết định hình phạt: Bị cáo đã có 02 tiền án chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục phạm tội nên xác định khung tăng nặng quy định tại điểm d khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự. Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên, Hội đồng xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục và cải tạo đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa hôm nay bị hại bà Tr vắng mặt, nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt không yêu cầu về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo không thuộc trường hợp được miễn nộp án phí giảm án phí và không thuộc trường hợp không phải nộp án phí nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lâm Tân Tr phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lâm Tân Tr 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 22- 01-2020.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Lê Thị Ngọc Tr không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quy định về mức thi, miễn, giảm, thu thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lâm Tân Tr phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại bà Tr vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết công khai.

Cỡ chữ