vanban.org

Bản án 03/2020/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Nam Định Tuyên án 07/01/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Đặng Đình D, Trần Xuân B phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân S4”.

Áp dụng Kh8 2 Điều 201; điểm s Kh8 1, Kh8 2 Điều 51; điểm g Kh8 1 Điều 52; Điều 17, 58 Bộ luật hình S4 năm 2015: Xử phạt bị cáo Đặng Đình D 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành bản án; Đ1 trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ (từ ngày 25/10/2019 đến 29/10/2019), về tội “…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Đình D - Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự - phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (điều 201 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Đặng Đình D, Trần Xuân B phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân S4”.
  • Căn cứ chính? Điều 201 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NH3DÂN
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2020/HS-ST
Ngày: 07/01/2020
NH3DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NH3DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Hà Nam

Các hội thẩm nH3dân:

Bà Trần Thị Hồng

Bà Nguyễn Thị Anh Q5

- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thu Phương, ông Bùi Xuân Sơn - Thư ký Tòa án nH3dân tỉnh Nam Định.

- Đ diện Viện kiểm sát nH3dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Đặng T6 - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 01 năm 2020 tại trụ sở, Toà án nH3dân tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm vụ án hình S4 thụ lý số 03/2020/TLST-HS ngày 02/12/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2020/QĐXXST-HS ngày 25/12/2019 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Đặng Đình D, tên gọi khác: Đặng Văn D; sinh năm: 1989; ĐKHKTT và nơi ở: Xóm 2, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân Tộc: Kinh; tôn giáo: Không; văn hóa: 9/12; nghề ngH9: Tự do; con ông: Đặng Đình M2, sinh năm 1964; con bà: Đặng Thị M3, sinh năm 1963; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất, vợ: Trần Thị H, sinh năm 1989; có ba con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2017.

Tiền án, tiền S4: Không.

NH3thân:

- Bản án hình S4 sơ thẩm số 14/2013/HSST ngày 20/9/2013 của TAND huyện M, tỉnh Nam Định xử phạt 04 tháng tù về tội “Đánh bạc” và 12 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”.

- Ngày 23/9/2016 bị C5 an huyện M, tỉnh Nam Định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình Th phạt tiền về hành vi “Gây rối trật tự khu dân cư”.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 25/10/2019 đến 29/10/2019 thì áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

2. Họ và tên: Trần Xuân B, tên gọi khác: Không; sinh năm: 1975; ĐKHKTT và nơi ở: Số 36 Bùi Xuân M4, phường M, TP N, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân Tộc: Kinh; tôn giáo: Không; văn hóa: 12/12; nghề ngH9: Tự do; con ông: Trần Xuân S (đã chết); con bà: D3 Thị Ng, sinh năm 1951; gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ hai; vợ: Phạm Thị Thu H1, sinh năm 1975; có 02 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh 2010.

Tiền án, tiền S4: Không;

NH3thân:

- Bản án hình S4 sơ thẩm số 118 ngày 30/7/1994 của TAND TP N và Bản án hình S4 Ph3 thẩm số 214/HSPT ngày 15/11/1994 của TAND tỉnh Nam Hà xử phạt 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự C5 cộng”.

- Bản án hình S4 sơ thẩm số 02/2011/HSST ngày 28/02/2011 của TAND huyện B, tỉnh Hà Nam xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội “Đánh bạc”.

- Ngày 10/6/2014 bị C5 an phường Cửa B, TP N, tỉnh Nam Định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình Th cảnh cáo về hành vi “Đánh bạc”.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 25/10/2019 đến 29/10/2019 thì áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

- Người có quyền L3, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Đặng Văn G, sinh năm 1994; Trú tại: Xóm 2, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định.

2. Anh Trần Xuân Đ, sinh năm 1998; Trú tại: Xóm 1, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định.

3. Anh Đặng Q6 K, sinh năm 1989; Trú tại: Xóm 6, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định.

4. Anh Đặng Văn T, sinh năm 1990; Trú tại: Xóm 2, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định.

5. Anh Phạm T1 A, sinh năm 1990; Trú tại: xã M5, huyện M, tỉnh Nam Định.

6. Anh Phạm Mạnh Th, sinh năm 1985; trú tại: Tổ dân phố V1, thị trấn M, huyện M, tỉnh Nam Định.

7. Anh Kiều Văn H3(Kiều Văn H4), sinh năm 1986; Trú tại: Tổ dân phố H5, thị trấn M, huyện M, tỉnh Nam Định.

8. Chị Lê Thị Vân A1, sinh năm 1977; Trú tại: Tổ dân phố L1, thị trấn M, huyện M, tỉnh Nam Định.

9. Anh Trần Văn Th2, sinh năm 1987; Trú tại: Xóm Đình, xã M5, huyện M, tỉnh Nam Định.

10. Anh C7 Ng3 T1, sinh năm 1990; Trú tại: Xóm 4, xã M6, huyện M, tỉnh Nam Định.

11. Anh Vũ Văn Ng, sinh năm 1983; Trú tại: Thôn Q4, xã M7, huyện M, tỉnh Nam Định.

12. Anh Đặng C5 S1, sinh năm 1988; Trú tại: Xóm 5, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định.

13. Anh Đặng Đình T2, sinh năm 1988; Trú tại: Xóm 5, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định.

14. Anh Đặng C5 Kh, sinh năm 1991; Trú tại: Xóm 8, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định.

15. Anh Đặng M2 Kh1, sinh năm 1984; Trú tại: Xóm 5, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định.

16. Anh Đặng Th11 Tr, sinh năm 1989; Trú tại: Xóm 5, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định.

17. Anh Đặng Như L3, sinh năm 1985; trú tại: Xóm 3, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định.

18. Anh Đặng M2 Q, sinh năm 1993; Trú tại: Xóm 3, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định Định.

19. Anh Đặng Thanh T5, sinh năm 1986; Trú tại: Xóm 4, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định.

20. Anh Trần Văn Ng3, sinh năm 1984; Trú tại: Xóm 1, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định.

21. Anh Đặng Văn C1, sinh năm 1967; Trú tại: Xóm 5, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định.

22. Anh Nguyễn Quốc P2, sinh năm 1989; Trú tại: Thôn A3, xã M6, huyện M, tỉnh Nam Định.

23. Chị Đặng Thị Thanh Th4, sinh năm 1977; Trú tại: Tổ dân phố Đ6, thị trấn M, huyện M, tỉnh Nam Định.

24. Anh Đặng Đình Đ1, sinh năm 1991; Trú tại: Tổ dân phố H3, thị trấn M, huyện M, tỉnh Nam Định.

25. Chị Đặng Thị Kim D, sinh năm 1994; Trú tại: Xóm 10, xã M8, huyện M, tỉnh Nam Định.

26. Anh Đặng Văn R, sinh năm 1988; Trú tại: Xóm 3, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định.

27. Anh Trần Xuân T6, sinh năm 1989; Trú tại: Xóm 1, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định.

28. Anh Đặng Đình D3, sinh năm 1989; Trú tại: Xóm 3, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định.

29. Anh Phạm Văn H, sinh năm 1991; Trú tại: Xóm 1, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định.

30. Anh Đặng Như T1, sinh năm 1992; Trú tại: Xóm 10, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định.

31. Anh Nguyễn Huy H7, sinh năm 1997; Trú tại: Xóm Đ2 thôn T5, xã M5, huyện M, tỉnh Nam Định.

32. Anh Nguyễn Đ7 T7, sinh năm 1995; Trú tại: Xóm Đ2 thôn T5, xã M5, huyện M, tỉnh Nam Định.

33. Anh Trần Văn Q5, sinh năm 1986; Trú tại: Tổ dân phố H5, thị trấn M, huyện M, tỉnh Nam Định.

34. Anh Nguyễn Văn Th10, sinh năm 1990; Trú tại: Xóm 8, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định.

35. Anh Đặng Văn Q6, sinh năm 1991; Trú tại: Xóm 6, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định.

36. Anh Mai Xuân H9, sinh năm 1991; Trú tại: Xóm 2, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định.

37. Anh Đặng C5 Th11, sinh năm 1996; Trú tại: Xóm 2, xã M1,

huyện M, tỉnh Nam Định.

38. Anh Trần Xuân H8, sinh năm 1992; Trú tại: thôn Ng5, xã Mỹ T6, huyện M, tỉnh Nam Định.

39. Anh Đặng Quốc B5, sinh năm 1989; Trú tại: Xóm 4, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định.

40. Anh Đặng Hồng Thuận, sinh năm 1986; Trú tại: Xóm 6, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định.

41: Anh Đặng C5 L5, sinh năm 1975; Trú tại: Xóm 6, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định.

42. Anh Đặng C5 G2, sinh năm 1975; Trú tại: Xóm 4, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định.

43. Anh Đặng Văn C5, sinh năm 1991; Trú tại: Xóm 2, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định.

44. Anh Trần Văn Đ6, sinh năm 1986; Trú tại: Xóm 1, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định.

45. Anh Đặng Đình Cảnh, sinh năm 1973; Trú tại: Xóm 2, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định.

46. Anh Lại Th11 D, sinh năm 1993; Trú tại: 3/422 Trần Hưng Đ6, phường Q4, TP N.

47. Chị Đặng Thị L6, sinh năm 1974; Trú tại: Xóm 2, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định.

48. Anh Mai Văn B6, sinh năm 1993; Trú tại: Xóm 6, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định.

49. Anh Đặng Th11 L7, sinh năm 1954; Trú tại: Xóm 8, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định.

50. Anh Nguyễn Văn L8, sinh năm 1990; Trú tại: Xóm B, xã M5, huyện M, tỉnh Nam Định.

51. Anh Phạm Văn C7, sinh năm 2000; Trú tại: Xóm B T5, xã M5, huyện M, tỉnh Nam Định.

52. Anh Phạm Mạnh L9, sinh năm 1987; Trú tại: Tổ dân phố V1, thị trấn M, huyện M, tỉnh Nam Định.

53. Anh Trần Đ7 Anh, sinh năm 1994; Trú tại: Tổ dân phố H5, thị trấn M, huyện M, tỉnh Nam Định.

54. Anh Phạm Văn Đ7, sinh năm 1997; Trú tại Đ8, xã M6, huyện M, tỉnh Nam Định.

55. Anh Đặng M2 Ph3, sinh năm 2000; Trú tại: Xóm 5, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định.

56. Anh Đặng Đình T8, sinh năm 1989; Trú tại: Tổ dân phố H3, thị trấn M, huyện M, tỉnh Nam Định.

57. Anh Trần Đ7 H10, sinh năm 1988; Trú tại: Thôn L9, xã Mỹ T6, huyện M, tỉnh Nam Định.

58. Anh Trần Văn D5, sinh năm 1985; Trú tại: Xóm 1, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định.

59. Anh Đặng C5 D6, sinh năm 1984; Trú tại: Xóm 5, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định.

60. Anh Đặng Văn Hà, sinh năm 1978; Trú tại: Xóm 3, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định.

61. Anh Đặng Đình H11, sinh năm 1987; Trú tại: Xóm 3, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định.

62. Anh Trần Mạnh H9, sinh năm 1990; Trú tại: thôn Đoài, xã M8, huyện M, tỉnh Nam Định.

63. Anh Lê Văn H12, sinh năm 1988; Trú tại: Tổ dân phố Mỹ Tục, thị trấn M, huyện M, tỉnh Nam Định.

64. Anh Phạm Q6 S3, sinh năm 1995; Trú tại: Thôn Đ8, xã M6, huyện M, tỉnh Nam Định.

65. Anh Trần Đình Q7, sinh năm 1989; Trú tại: Thôn Đ8, xã M6, huyện M, tỉnh Nam Định.

66. Anh Trần Văn C7, sinh năm 1995; Trú tại: Thôn L9, xã Mỹ T6, huyện M, tỉnh Nam Định.

67. Anh Đặng C5 H9, sinh năm 1989; Trú tại: Xóm 5, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định.

68. Anh Lê Q6 Khôi, sinh năm 1991; Trú tại: B Lê Xá, thị trấn M, huyện M, tỉnh Nam Định.

69. Anh Trịnh Đình L7, sinh năm 1985; Trú tại: Xóm Nam T5, xã M5, huyện M, tỉnh Nam Định.

70. Anh Hàn Thúy H12, sinh năm 2001; Trú tại: Xóm Bến, xã M5, huyện M, tỉnh Nam Định.

71. Anh Trần Hữu Kh8, sinh năm 1972; Trú tại: số nhà 12/15 Ngô Gia Tự, phường Thống Nhất, TP N.

72. Anh D3 Văn Kh8, sinh năm 1981; Trú tại: ngách 121 ngõ 97, đường Tr, TP N.

73. Anh Đặng C5 Kh8, sinh năm 1986; Trú tại: Xóm 5, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định.

74. Anh Đặng Hữu S4, sinh năm 1983; Trú tại: Xóm 2, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định.

75. Anh Đặng Q6 Kh9, sinh năm 1982; Trú tại: Tổ dân phố H3, thị trấn M, huyện M, tỉnh Nam Định.

Tại phiên tòa có mặt các bị cáo Đặng Đình D, Trần Xuân B; có mặt anh Trần Hữu Kh8 là người có quyền L3 và nghĩa vụ liên quan. Những người có quyền L3 và nghĩa vụ liên quan khác và người làm chứng đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án Đ1 tóm tắt như sau:

Cửa hiệu cầm đồ “D N10 - Tư vấn tài chính 24/24”, có địa chỉ tại xóm 4, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định Đ1 UBND huyện M, tỉnh Nam Định cấp giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh D6 ngày 12/4/2018; ngành nghề kinh D6: Dịch vụ cầm đồ, do Đặng Văn N10, sinh năm 1986, trú tại xóm 2, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định là Đ diện hộ kinh D6. Ngày 16/5/2019, Tổ C5 tác liên ngành (Đ1 thành lập theo Quyết định số 44/QĐ-UBND ngày 07/01/2019 của UBND tỉnh Nam Định) đã T6 hành kiểm tra việc chấp hành pháp luật của cửa hiệu cầm đồ D N10. Qua kiểm tra phát hiện tài liệu ghi chép trong sổ sách có dấu hiệu phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân S4. Tổ C5 tác liên ngành đã lập biên bản kiểm tra hành chính, tạm giữ sổ sách, những tài liệu, đồ vật liên quan đến việc cho khách hàng vay tiền lấy lãi, đồng thời yêu cầu Đặng Văn N10 cùng các đối tượng có liên quan là Đặng Đình K, sinh năm 1991, Đặng Văn Đồng, sinh năm 2000, đều trú tại xóm 2, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định về Phòng PC02 - C5 an tỉnh Nam Định để xác M2 làm rõ. Tại Cơ quan CSĐT - C5 an tỉnh Nam Định, N10, K, Đồng khai nhận như sau:

Kh8g tháng 4/2018 Đặng Văn N10 cùng Trần Xuân B, sinh năm 1975, trú tại: Số 36 Bùi Xuân M4, khu tái định cư xã M, TP N, tỉnh Nam Định thống nhất mở cửa hiệu cầm đồ, cho vay lấy lãi, mỗi người góp vốn 100 triệu đồng. N10 làm hợp đồng thuê nhà của ông Đặng C5 Tưởng ở xóm 4, xã M1, huyện M để làm địa điểm kinh D6 và làm thủ tục đăng ký kinh D6. B là người quản lý chung; thuê Đặng Đình D, sinh năm 1989, trú tại xóm 2, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định trả L8 8.000.000 đồng/tháng, thuê Đặng Đình K, Đặng Văn Đồng trả L8 5.000.000 đồng/tháng. Nhiệm vụ của K, Đồng là thường xuyên có mặt tại cửa hiệu, quản lý sổ sách, và làm thủ tục cho vay khi khách hàng đến vay tiền, còn N10, D trực T2 theo dõi giám sát, quản lý cửa hàng, lúc có mặt tại cửa hàng thì trực T2 làm thủ tục cho khách vay. Trường hợp đến thời hạn mà khách chưa trả tiền lãi, tiền gốc, thì D, N10, K hoặc Đồng có trách nhiệm gọi điện thoại để nhắc nhở. B thống nhất lãi suất khi cho khách vay là 4.000đồng/ 1triệu/ 1ngày. Khi khách hàng đến vay tiền, thì một trong số 4 đối tượng là: K, Đồng, N10, D sẽ đưa cho khách hàng mẫu giấy vay tiền in sẵn để điền thông tin cá nhân, số điện thoại, địa chỉ, số chứng M2 nH3dân, rồi K, N10, D, Đồng lấy tiền mà B để sẵn trong két sắt hoặc điện thoại cho B đến đưa tiền cho khách vay. Khách hàng vay tiền thường pH để lại giấy tờ tuỳ tH3hoặc sổ hộ khẩu để làm tin. Thời hạn cho vay là 01 tháng, khách hàng sẽ đến trả tiền lãi vào ngày trùng với ngày vay tiền của tháng T2 theo Đ1 ghi trong giấy vay tiền. Nếu khách trả trước thời hạn thì các đối tượng tính thời gian vay theo ngày. N10, D, K, Đồng thu tiền lãi và tiền gốc của khách bỏ vào két sắt tại cửa hiệu và ghi vào sổ “Nhắc lãi”. Hàng ngày vào buổi tối thì B sẽ đến cửa hiệu để kiểm tra, đối cH12 số tiền gốc, số tiền lãi đã thu trong ngày cùng với sổ sách, rồi viết vào sổ thu, chi. Khách hàng đến vay tiền chủ yếu là người dân ở xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định và ở một số xã L9 cận.

Cửa hiệu cầm đồ D N10 hoạt động Đ1 01 tháng thì N10 rút toàn bộ vốn đã góp để sử dụng vào mục đích cá nhân. Sau khi N10 rút vốn thì D đặt vấn đề góp vốn cùng làm ăn chung với B. D góp số tiền 200 triệu đồng (là số tiền riêng của D) làm vốn để cho vay. Đến tháng 7/2018, do nhu cầu nhiều khách vay, nên D T2 tục góp thêm số tiền 300 triệu đồng làm vốn để cho vay. Trong đó có 100 triệu đồng là tiền riêng của D, còn 200 triệu đồng là số tiền D nhờ bố đẻ là ông Đặng Đình M2 đứng ra vay vốn ngân hàng. Khi vay tiền D không nói với ông M2 là để sử dụng vào mục đích gì. B, D thống nhất với nhau: Số tiền lãi thu Đ1 hàng tháng sẽ trả N10 tiền C5 8.000.000 đồng/tháng, trả K, Đồng mỗi người 5.000.000 đồng/tháng; B, D mỗi người 8.000.000 đồng/tháng và trừ đi chi phí sinh hoạt chung tại cửa hiệu cầm đồ, số tiền lãi còn lại cộng vào tiền vốn T2 tục cho vay và ăn chia theo tỷ lệ góp vốn 1:5 (B hưởng 20%, D hưởng 80% tiền lãi).

Căn cứ tài liệu điều tra thu thập Đ1, Cơ quan CSĐT - C5 an tỉnh Nam Định đã xác định Đ1 75 trường hợp vay tiền của cửa hiệu cầm đồ D N10, cụ thể như sau:

1. Đặng Văn N10 trực T2 làm thủ tục cho 24 khách hàng vay tiền:

- Trường hợp số 1: Đặng Văn G, sinh năm 1994, trú tại: xóm 2, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 360).

Ngày 14/3/2018(âm lịch), anh G đến gặp N10 vay 3.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm) để lại một chứng M2 thư nH3dân mang tên Đặng Văn G, sau 01 tháng anh G đã trả số tiền gốc và số tiền lãi đã trả là 360.000 đồng.

Theo quy định của Bộ luật dân S4 năm 2015, số tiền chiếm hưởng hợp pháp là 20%/năm của Kh8 tiền vay (tức là tiền gốc). Như vậy, số tiền chiếm hưởng hợp pháp của 01 tháng trong trường hợp này là: (3.000.000 đồng tiền gốc:12 tháng x 20%)=50.000 đồng.

Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 360.000 đồng - 50.000 đồng = 310.000 đồng.

Tương tự cách tính trên đối với các trường hợp vay khác như sau:

- Trường hợp số 2: Trần Xuân Đ, sinh năm 1998, trú tại: xóm 1, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định (BL362).

+ Lần 1: ngày 17/3/2018(âm lịch), anh Đ đến gặp N10 vay 4.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), sau 12 tháng anh Đ đã trả số tiền lãi là 5.760.000 đồng, số tiền gốc chưa trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 5.760.000đ- ((4.000.000đ:12x20%) x 12)) = 4.960.000 đồng.

+ Lần 2: ngày 7/4/2018(âm lịch), anh Đ đến gặp N10 vay 3.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm) để lại một giấy phép lái xe mang tên Trần Xuân Đ, sau 06 tháng anh Đ đã trả số tiền gốc, tiền lãi đã trả là 2.160.000 đồng. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 2.160.000đ -((3.000.000đ:12x20%)x6)) = 1.860.000 đồng.

Tổng số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 6.820.000 đồng.

- Trường hợp số 3: Đặng Q6 K, sinh năm 1989, trú tại: xóm 6, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 365).

Ngày 29/7/2018(âm lịch), anh K đến gặp N10 vay 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm) để lại một chứng M2 thư nH3dân mang tên Đặng Q6 K, sau 09 tháng anh K đã trả số tiền lãi là 10.800.000 đồng, còn số tiền gốc chưa trả.

Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 10.800.000đ - ((10.000.000đ:12x20%) x 9)) = 9.300.000 đồng.

- Trường hợp số 4: Đặng Văn T, sinh năm 1990, trú tại: xóm 2, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 366).

+ Lần 1: ngày 12/4/2018(âm lịch), anh T đến gặp N10 vay 5.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), sau 04 tháng anh T đã trả số tiền gốc, tiền lãi đã trả là 2.400.000 đồng. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 2.400.000 đ -((5.000.000 đ:12x20%)x4)) = 2.066.667 đồng.

+ Lần 2: ngày 16/8/2018(âm lịch), anh T đến gặp N10 vay 6.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), sau 05 ngày anh Tuyến đã trả số tiền gốc, tiền lãi đã trả là 120.000 đồng. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 120.000 đ -((6.000.000 đ:12:30x20%)x5))= 103.333 đồng.

Tổng số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 2.170.000 đồng.

- Trường hợp số 5: Phạm T1 Anh, sinh năm 1990, trú tại: xã M5, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 368).

Ngày 17/11/2018 (âm lịch), anh Anh đến gặp N10 vay 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), sau 02 tháng 10 ngày anh Anh đã trả số tiền gốc, tiền lãi đã trả là 2.800.000 đồng.

Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 2.800.000đ - ((10.000.000đ:12:30x20%)x70)) = 2.411.111 đồng.

- Trường hợp số 6: Phạm Mạnh Th, sinh năm 1985, trú tại: Tổ dân phố V1, thị trấn M, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 371).

+ Lần 1: ngày 5/3/2018(âm lịch), anh Th đến gặp N10 vay 20.000.000 đồng với lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 180%/năm) để lại một chứng M2 thư nH3dân mang tên Phạm Mạnh Th, anh Th đã trả Đ1 tiền gốc, số tiền lãi trả trong 08 tháng là 24.000.000 đồng. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 24.000.000 đ - ((20.000.000 đ:12x20%)x8)) = 21.333.333 đồng.

+ Lần 2: ngày 10/2/2019(âm lịch), anh Th đến gặp N10 vay 5.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh Th đã trả số tiền lãi trong 01 tháng là 600.000 đồng, số tiền gốc chưa trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 600.000 đ - ((5.000.000 đ:12x20%)x1)) = 516.667 đồng.

Tổng số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 21.850.000 đồng.

- Trường hợp số 7: Kiều Văn H3(Kiều Văn H4), sinh năm 1986, trú tại: Tổ dân phố H5, thị trấn M, huyện M, tỉnh Nam Định (BL372).

+ Lần 1: ngày 6/3/2018(âm lịch), anh H3đến vay N10 số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh H3đã trả số tiền lãi trong 01 tháng là 600.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 600.000 đ -((5.000.000 đ:12x20%)x1))= 516.667 đồng.

+ Lần 2: ngày 01/6/2018(âm lịch), anh H3đến vay N10 số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh H3đã trả số tiền lãi trong 03 tháng 10 ngày là 2.000.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 2.000.000đ -((5.000.000 đ:12:30x20%)x100))=1.722.222 đồng.

+ Lần 3: ngày 10/6/2018(âm lịch), anh H3đến vay N10 số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh H3đã trả số tiền lãi trong 3 tháng 01 ngày là 1.820.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 1.820.000đ - ((5.000.000đ:12:30x20%)x91))= 1.567.222 đồng.

+ Lần 4: ngày 17/6/2018(âm lịch), anh H3đến vay N10 số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh H3đã trả số tiền lãi trong 2 tháng 24 ngày là 1.680.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 1.680.000 đ -((5.000.000 đ:12:30x20%)x84))= 1.446.667 đồng.

+ Lần 5: ngày 26/7/2018(âm lịch), anh H3đến vay số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh H3đã trả số tiền lãi trong 01 tháng 15 ngày là 1.800.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 1.800.000 đ -((10.000.000 đ:12:30x20%)x45))= 1.550.000 đồng.

+ Lần 6: ngày 28/8/2018(âm lịch), anh H3đến vay số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh H3đã trả số tiền lãi trong 13 ngày là 260.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 260.000 đ -((5.000.000 đ:12:30x20%)x13))= 223.888 đồng.

+ Lần 7: ngày 12/10/2018(âm lịch), anh H3đến vay số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh H3đã trả số tiền lãi trong 01 ngày là 40.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 40.000 đ -((10.000.000 đ:12:30x20%)x1))= 34.444 đồng.

+ Lần 8: ngày 19/10/2018(âm lịch), anh H3đến vay số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh H3đã trả số tiền lãi trong 17 ngày là 340.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 340.000 đ -((5.000.000 đ:12:30x20%)x17))= 292.778 đồng.

+ Lần 9: ngày 4/11/2018(âm lịch), anh H3đến vay số tiền 20.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh H3đã trả số tiền lãi trong 02 ngày là 160.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 160.000 đ -((20.000.000 đ:12:30x20%)x2))= 137.778 đồng.

+ Lần 10: ngày 6/11/2018(âm lịch), anh H3đến vay số tiền 15.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh H3đã trả số tiền lãi trong 02 tháng 09 ngày là 4.140.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 4.140.000 đ -((15.000.000 đ:12:30x20%)x69))= 3.565.000 đồng.

+ Lần 11: ngày 11/12/2018(âm lịch), anh H3đến vay số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh H3đã trả số tiền lãi trong 01 tháng 4 ngày là 1.360.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 1.360.000 đ -((10.000.000 đ:12:30x20%)x34))= 1.171.111 đồng.

+ Lần 12: ngày 19/12/2018(âm lịch), anh H3đến vay số tiền 20.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh H3đã trả số tiền lãi trong 26 ngày là 2.080.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 2.080.000 đ -((20.000.000 đ:12:30x20%)x26))= 1.791.111 đồng.

+ Lần 13: đầu tháng 01/2019(âm lịch), anh H3đến vay D số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh H3đã trả số tiền lãi trong 13 ngày là 260.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 260.000 đ -((5.000.000 đ:12:30x20%)x13))= 223.889 đồng.

Tổng số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 14.242.777 đồng.

- Trường hợp số 8: Lê Thị Vân Anh, sinh năm 1977, trú tại: Tổ dân phố L1, thị trấn M, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 376).

Ngày 10/3/2018(âm lịch), chị Vân Anh đến vay N10 số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), chị Vân Anh đã trả số tiền lãi trong 09 tháng là 5.400.000 đồng, số tiền gốc đã trả.

Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 5.400.000đ - ((5.000.000đ:12x20%)x9))= 4.650.000 đồng.

- Trường hợp số 9: Trần Văn Th2, sinh năm 1987, trú tại: Xóm Đình, xã M5, huyện M, tỉnh Nam Định (BL378).

+ Lần 1: ngày 12/6/2018(âm lịch), anh Th2 đến vay N10 số tiền 1.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh Th2 đã trả số tiền lãi đến ngày 15/12/2018 tức là trong 6 tháng 3 ngày là 732.000 đồng, số tiền gốc chưa trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 732.000đ -((1.000.000đ:12:30x20%)x183))= 630.333 đồng.

+ Lần 2: ngày 15/8/2018(âm lịch), anh Th2 đến vay N10 số tiền 6.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh Th2 đã trả số tiền lãi đến ngày 15/12/2018 tức là trong 4 tháng là 2.880.000 đồng, số tiền gốc chưa trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 2.880.000đ -((6.000.000đ:12x20%)x4))= 2.480.000 đồng.

Ngày 15/12/2018 (âm lịch) anh Th2 và N10 thống nhất nhập hai mã vay trên lại làm một là 7.000.000 đồng tính lãi từ 15/12/2018 lãi suất 4000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/1 năm). Anh Th2 đã trả số tiền lãi trong 3 tháng là 2.520.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 2.520.000đ – ((7.000.000 đ:12x20%)x3))= 2.170.000 đồng.

Tổng số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 5.280.333 đồng.

- Trường hợp số 10: C7 Ng3 T1, sinh năm 1990, trú tại: xóm 4, xã M6, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 380).

+ Lần 1: ngày 17/3/2018(âm lịch), anh T1 đến vay N10 số tiền 4.000.000 đồng với lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 180%/năm), anh T1 đã trả số tiền lãi trong 01 tháng là 600.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 600.000 đ -((4.000.000 đ:12x20%)x1))= 533.333 đồng.

+ Lần 2: ngày 4/6/2018(âm lịch), anh T1 đến vay K số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 180%/năm), anh T1 đã trả số tiền lãi trong 02 tháng 02 ngày là 1.550.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 1.550.000đ -((5.000.000đ:12:30x20%)x62))= 1.377.778 đồng.

+ Lần 3: ngày 15/8/2018(âm lịch), anh T1 đến vay K số tiền 20.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh T1 đã trả số tiền lãi trong 07 tháng là 16.800.000 đồng, số tiền gốc chưa trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 16.800.000đ -((20.000.000đ:12x20%)x7))= 14.466.667 đồng.

Tổng số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 16.377.778 đồng.

- Trường hợp số 11: Vũ Văn Ng, sinh năm 1983, trú tại: Thôn Q4, xã M7, huyện M, tỉnh Nam Định (BL382).

Ngày 5/3/2018(âm lịch), anh Ng đến vay N10 số tiền 20.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh Ng đã trả số tiền lãi trong 13 tháng, tháng 4/2019 do khó khăn anh Ng trả lãi tH12 400.000 đồng, số tiền lãi anh Ng đã trả là 30.800.000 đồng, số tiền gốc chưa trả.

Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 30.800.000đ - ((20.000.000đ:12x20%)x13))= 26.466.667 đồng.

- Trường hợp số 12: Đặng C5 S1, sinh năm 1988, trú tại: Xóm 5, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 384).

Ngày 3/5/2018(âm lịch), anh S1 đến vay N10 số tiền 2.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh S1 đã trả số tiền lãi trong 7 tháng 21 ngày là 1.848.000 đồng, số tiền gốc đã trả.

Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 1.848.000đ -((2.000.000 đ:12:30x20%)x231))= 1.591.333 đồng.

- Trường hợp số 13: Đặng Đình T2, sinh năm 1988, trú tại: xóm 5, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 386).

Ngày 12/3/2018(âm lịch), anh T2 đến vay N10 số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh T2 đã trả số tiền lãi trong 7 tháng là 8.400.000 đồng, số tiền gốc đã trả.

Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 8.400.000đ - ((10.000.000đ:12x20%)x7))= 7.233.333 đồng.

- Trường hợp số 14: Đặng C5 Kh, sinh năm 1991, trú tại: xóm 8, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 388).

Ngày 27/1/2018(âm lịch), anh Kh đến vay N10 số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh Kh đã trả số tiền lãi trong 3 tháng là 3.600.000 đồng, số tiền gốc chưa trả.

Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 3.600.000đ - ((10.000.000đ:12x20%)x3))= 3.100.000 đồng.

- Trường hợp số 15: Đặng M2 Kh1, sinh năm 1984, trú tại: xóm 5, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 392).

+ Lần 1: Ngày 18/4/2018(âm lịch), anh Kh1 đến vay N10 số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh Kh1 đã trả số tiền lãi trong 06 ngày là 240.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 240.000 đ -((10.000.000 đ:12:30x20%)x6))= 206.667 đồng.

+ Lần 2: Ngày 26/10/2018(âm lịch), anh Kh1 đến vay N10 số tiền 7.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh Kh1 đã trả số tiền lãi trong 24 ngày là 670.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 670.000 đ -((7.000.000 đ:12:30x20%)x24))= 576.667 đồng.

+ Lần 3: Ngày 26/12/2018(âm lịch), anh Kh1 đến vay N10 số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh Kh1 đã trả số tiền lãi trong 01 tháng là 1.200.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 1.200.000 đ -((10.000.000 đ:12x20%)x1))= 1.033.333 đồng.

+ Lần 4: Ngày 10/4/2019(âm lịch), anh Kh1 đến vay N10 số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh Kh1 trả tiền lãi nhưng N10 không lấy tiền lãi, số tiền gốc đã trả.

Tổng số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 1.816.667 đồng.

- Trường hợp số 16: Đặng Th11 Trường, sinh năm 1989, trú tại: xóm 5, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 394).

+ Lần 1: Ngày 12/01/2019(âm lịch), anh Trường đến vay N10 số tiền 20.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh Trường đã trả số tiền lãi trong 01 tháng là 2.400.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 2.400.000 đ -((20.000.000 đ:12x20%)x1))= 2.066.667 đồng.

+ Lần 2: Ngày 15/02/2019(âm lịch), anh Trường đến vay N10 số tiền 15.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), đến ngày 15/3/2019 anh Trường đến trả trước 10.000.000 đồng tiền gốc và 1.800.000 đồng tiền lãi, còn lại 5.000.000 đồng tiền gốc, số tiền gốc 5.000.000 đồng còn lại chưa trả lãi. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 1.800.000 đ -((15.000.000đ:12x20%)x1)= 1.550.000 đồng.

+ Lần 3: Ngày 11/4/2019(âm lịch), anh Trường đến vay N10 số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh Trường chưa trả số tiền lãi, số tiền gốc chưa trả.

Tổng số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 3.616.667 đồng.

- Trường hợp số 17: Đặng Như L3, sinh năm 1985, trú tại: xóm 3, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 396).

+ Lần 1: Ngày 29/02/2019(âm lịch), anh L3 đến vay N10 số tiền 30.000.000 đồng với lãi suất là 3.300 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 118.8 %/năm), anh L3 đã trả số tiền lãi trong 01 tháng là 3.000.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 3.000.000 đ -((30.000.000 đ:12x20%)x1))= 2.500.000 đồng.

+ Lần 2: Ngày 13/3/2019(âm lịch), anh L3 đến vay N10 số tiền 25.000.000 đồng với lãi suất là 3.300 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 118.8 %/năm), anh L3 chưa trả số tiền lãi, số tiền gốc chưa trả.

Tổng số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 2.500.000 đồng.

- Trường hợp số 18: Đặng M2 Q, sinh năm 1993, trú tại: xóm 3, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 398).

+ Lần 1: Ngày 14/01/2019(âm lịch), anh Q đến vay N10 số tiền 40.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144 %/năm), anh Q đã trả số tiền lãi trong 9 ngày là 1.440.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 1.440.000đ - ((40.000.000đ:12:30x20%)x9))= 1.240.000 đồng.

+ Lần 2: Ngày 18/3/2019(âm lịch), anh Q đến vay N10 số tiền 50.000.000 đồng với lãi suất là 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 108 %/năm), anh Q đã trả số tiền lãi trong 19 ngày là 2.850.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 2.850.000đ -((50.000.000đ:12:30x20%)x19))= 2.322.222 đồng.

Tổng số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 3.562.222 đồng.

- Trường hợp số 19: Đặng Thanh T5, sinh năm 1986, trú tại: xóm 4, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 400).

+ Lần 1: Ngày 01/4/2018(âm lịch), anh T5 đến vay số tiền 15.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144 %/năm), anh T5 đã trả số tiền lãi trong 01 tháng 25 ngày là 3.300.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 3.300.000đ - ((15.000.000đ:12:30x20%)x55))= 2.841.667 đồng.

+ Lần 2: Ngày 01/7/2018(âm lịch), anh T5 đến vay số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144 %/năm), anh T5 đã trả số tiền lãi trong 09 ngày là 180.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 180.000 đ -((5.000.000 đ:12:30x20%)x9))= 155.000 đồng.

+ Lần 3: Ngày 12/8/2018(âm lịch), anh T5 đến vay số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144 %/năm), anh T5 đã trả số tiền lãi trong 01 tháng 9 ngày là 1.560.000 đồng, số tiền gốc chưa trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 1.560.000 đ -((10.000.000 đ:12:30x20%)x39))= 1.343.333 đồng.

+ Lần 4: Ngày 18/9/2018(âm lịch), anh T5 đến vay số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 ðồng/1 triệu/1 ngày (týõng ðýõng 144 %/nãm), anh T5 ðã trả số tiền lãi trong 01 tháng 9 ngày là 1.560.000 đồng, số tiền gốc chưa trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 1.560.000 đ -((10.000.000 đ:12:30x20%)x39))= 1.343.333 đồng.

+ Lần 5: Ngày 15/10/2018(âm lịch), anh T5 đến vay số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144 %/năm), anh T5 đã trả số tiền lãi trong 01 tháng 9 ngày là 1.560.000 đồng, số tiền gốc chưa trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 1.560.000 đ -((10.000.000 đ:12:30x20%)x39))= 1.343.333 đồng.

Tổng số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 7.026.666 đồng.

- Trường hợp số 20: Trần Văn Ng3, sinh năm 1984, trú tại: xóm 1, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 402).

+ Lần 1: Ngày 04/3/2018(âm lịch), anh Ng3 đến vay N10 số tiền 30.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144 %/năm), anh Ng3 để lại 01 CMND, anh Ng3 đã trả số tiền lãi trong 01 tháng là 3.600.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 3.600.000đ -((30.000.000đ:12x20%)x1))= 3.100.000 đồng.

+ Lần 2: Kh8g đầu năm 2019(âm lịch), anh Ng3 đến vay số tiền 3.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144 %/năm), anh Ng3 đã trả số tiền lãi trong 03 tháng là 1.080.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 1.080.000 đ -((3.000.000 đ:12x20%)x3))= 930.000 đồng.

Tổng số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 4.030.000 đồng.

- Trường hợp số 21: Đặng Văn C1, sinh năm 1967, trú tại: xóm 5, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 404):

Ngày 08/01/2019(âm lịch), anh C1 đến vay N10 số tiền 24.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144 %/năm, anh C1 đã trả số tiền lãi trong 03 tháng là 8.640.000 đồng, số tiền gốc chưa trả.

Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 8.640.000đ - ((24.000.000đ:12x20%)x3))= 7.440.000 đồng.

- Trường hợp số 22: Nguyễn Quốc P2, sinh năm 1989, trú tại: Thôn A3, xã M6, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 406):

+ Lần 1: Ngày 21/7/2018(âm lịch), anh P2 đến vay N10 số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144 %/năm, anh P2 đã trả số tiền lãi trong 02 tháng 17 ngày là 3.080.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 3.080.000đ - ((10.000.000đ:12:30x20%)x77))= 2.652.222 đồng.

+ Lần 2: Ngày 22/8/2018(âm lịch), anh P2 đến vay N10 số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144 %/năm, anh P2 đã trả số tiền lãi trong 01 tháng 16 ngày là 1.840.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 1.840.000đ - ((10.000.000đ:12:30x20%)x46))= 1.584.444 đồng.

Tổng số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 4.236.666 đồng.

- Trường hợp số 23: Đặng Thị Thanh Th4, sinh năm 1977, trú tại: Tổ dân phố Đ6, thị trấn M, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 408):

+ Lần 1: Ngày 17/7/2018(âm lịch), chị Th4 đến vay N10 số tiền 20.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144 %/năm, chị Th4 đã trả số tiền lãi trong 04 tháng 16 ngày là 10.880.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 10.880.000 đ -((20.000.000 đ:12:30x20%)x136))= 9.368.889 đồng.

+ Lần 2: Ngày 04/9/2018(âm lịch), chị Th4 đến vay N10 số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144 %/năm, chị Th4 đã trả số tiền lãi trong 01 tháng 25 ngày là 2.200.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 2.200.000đ - ((10.000.000đ:12:30x20%)x55))= 1.894.444 đồng.

+ Lần 3: Ngày 07/11/2018(âm lịch), chị Th4 đến vay N10 số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144 %/năm, chị Th4 đã trả số tiền lãi trong 26 ngày là 520.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 520.000 đ -(5.000.000 đ:12:30x20%)x26))= 447.778 đồng.

+ Lần 4: Ngày 24/01/2019(âm lịch), chị Th4 đến vay N10 số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144 %/năm, chị Th4 đã trả số tiền lãi trong 03 tháng là 1.800.000 đồng, số tiền gốc chưa trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 1.800.000đ –((5.000.000đ:12x20% )x3))= 1.550.000 đồng.

+ Lần 5: Ngày 05/02/2019(âm lịch), chị Th4 đến vay N10 số tiền 15.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144 %/năm, chị Th4 đã trả số tiền lãi trong 02 tháng là 3.600.000 đồng, số tiền gốc chưa trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 3.600.000đ - ((15.000.000đ:12x20%)x2))= 3.100.000 đồng.

+ Lần 6: Ngày 27/02/2019(âm lịch), chị Th4 đến vay N10 số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144 %/năm, chị Th4 đã trả số tiền lãi trong 02 tháng là 2.400.000 đồng, số tiền gốc chưa trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 2.400.000đ - ((10.000.000đ:12x20%)x2))= 2.066.667 đồng.

Tổng số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 18.427.778 đồng.

- Trường hợp số 24: Đặng Đình Đ1, sinh năm 1991, trú tại: Tổ dân phố H3, thị trấn M, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 410):

+ Lần 1: Ngày 20/6/2018(âm lịch), anh Đ1 đến vay N10 số tiền 7.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144 %/năm, anh Đ1 đã trả số tiền lãi trong 01 tháng 26 ngày là 1.568.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 1.568.000đ - ((7.000.000đ:12:30x20%)x56))= 1.350.222 đồng.

+ Lần 2: Ngày 08/7/2018(âm lịch), anh Đ1 đến vay N10 số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144 %/năm, anh Đ1 đã trả số tiền lãi trong 01 tháng 08 ngày là 760.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 760.000đ - ((5.000.000đ:12:30x20%)x38))= 654.444 đồng.

+ Lần 3: Ngày 16/10/2018(âm lịch), anh Đ1 đến vay N10 số tiền 6.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144 %/năm, anh Đ1 đã trả số tiền lãi trong 01 tháng là 720.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 720.000đ -((6.000.000đ:12x20%)x1))= 620.000 đồng.

+ Lần 4: Ngày 05/3/2019(âm lịch), anh Đ1 đến vay N10 số tiền 6.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144 %/năm, anh Đ1 đã trả số tiền lãi trong 01 tháng là 720.000 đồng, số tiền gốc chưa trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 720.000đ - ((6.000.000đ:12x20%)x1))= 620.000 đồng.

Tổng số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 3.244.666 đồng.

2. Đặng Đình K trực T2 làm thủ tục cho 22 khách hàng vay tiền:

- Trường hợp số 25: Đặng Thị Kim Dung, sinh năm 1994, trú tại: xóm 10, xã M8, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 431).

Ngày 23/9/2018(âm lịch), chị Dung đến gặp K vay 3.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm) để lại chứng M2 thư nH3dân mang tên Đặng Thị Kim Dung, sau 07 tháng chị Dung đã trả số tiền lãi là 2.520.000 đồng (hai triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng), đã trả Đ1 01 triệu tiền gốc.

Theo quy định của BLDS 2015, số tiền chiếm hưởng hợp pháp của D là 20%/năm của Kh8 tiền vay (tức là tiền gốc). Như vậy, số tiền chiếm hưởng hợp pháp của 07 tháng trong trường hợp này là: (3.000.000 đ:12x20%)x7=350.000 đồng

Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 2.520.000đ -350.000đ =2.170.000 đồng

- Trường hợp số 26: Đặng Văn R, sinh năm 1988, trú tại: xóm 3, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 433).

+ Lần 1: ngày 22/5/2018(âm lịch), anh R đến gặp K vay 3.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), sau 02 tháng anh R đã trả số tiền gốc, tiền lãi đã trả là 720.000 đồng. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 720.000 đ -((3.000.000 đ:12x20%)x2))= 620.000 đồng.

+ Lần 2: ngày 06/9/2018(âm lịch), anh R đến gặp K vay 3.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), sau 03 ngày anh R đã trả số tiền gốc, tiền lãi đã trả là 36.000 đồng. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 36.000 đ -((3.000.000 đ:12:30x20%)x3))= 31.000 đồng.

Tổng số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 651.000 đồng.

- Trường hợp số 27: Trần Xuân T6, sinh năm 1989, trú tại: xóm 1, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 435).

+ Lần 1: ngày 24/3/2018(âm lịch), anh T6 đến gặp K vay 20.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm) để lại một chứng M2 thư nH3dân và một giấy phép lái xe mang tên Trần Xuân T6, sau 02 tháng anh G đã trả số tiền gốc, tiền lãi đã trả là 4.800.000 đồng. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 4.800.000 đ - ((20.000.000đ:12x20%)x2)) = 4.133.333 đồng.

+ Lần 2: Ngày 23/8/2018(âm lịch), anh T6 đến gặp K vay 3.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm) để lại một giấy phép lái xe và một đăng ký xe máy mang tên Trần Xuân T6, sau 01 tháng 05 ngày anh T6 đã trả số tiền gốc, tiền lãi đã trả là 420.000 đồng. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 420.000 đ - ((3.000.000 đ:12:30x20%)x35)) = 361.667 đồng.

Tổng số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 4.495.000 đồng.

- Trường hợp số 28: Đặng Đình D3, sinh năm 1989, trú tại: xóm 3, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 437).

+ Lần 1: ngày 30/7/2018(âm lịch), anh D3 đến gặp K vay 15.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm) để lại một sổ hộ khẩu gia đình mang tên Đặng Đình D3, sau 28 ngày anh D3 đã trả số tiền gốc, tiền lãi đã trả là 1.680.000 đồng. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 1.680.000 đ - ((15.000.000 đ:12:30x20%)x28)) = 1.446.667 đồng.

+ Lần 2: ngày 28/9/2018(âm lịch), anh D3 đến gặp K vay 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), sau 75 ngày anh D3 đã trả số tiền gốc, tiền lãi đã trả là 3.000.000 đồng. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 3.000.000 đ - ((10.000.000 đ:12:30x20%)x75)) = 2.583.333 đồng.

+ Lần 3: ngày 30/2/2019(âm lịch), anh D3 đến gặp K vay 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), sau 02 tháng anh D3 đã trả tiền lãi là 2.400.000 đồng, còn số tiền gốc chưa trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 2.400.000đ - ((10.000.000đ:12x20%)x2)) = 2.066.667 đồng.

Tổng số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 6.096.667 đồng.

- Trường hợp số 29: Phạm Văn H, sinh năm 1991, trú tại: xóm 1, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 439).

Ngày 5/3/2019(âm lịch), anh H đến gặp K vay 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), sau 01 tháng anh H đã trả số tiền gốc, tiền lãi đã trả là 1.200.000 đồng.

Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 1.200.000 đ -(10.000.000 đ:12x20%)= 1.033.333 đồng.

- Trường hợp số 30: Đặng Như T1, sinh năm 1992, trú tại: xóm 10, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 443).

+ Lần 1: ngày 07/3/2018(âm lịch), anh T1 đến gặp K vay 2.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), sau 06 tháng 25 ngày anh T1 đã trả số tiền gốc, tiền lãi đã trả là 1.640.000 đồng. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 1.640.000 đ - ((2.000.000 đ:12:30x20%)x205)) = 1.412.222 đồng.

+ Lần 2: ngày 13/4/2018(âm lịch), anh T1 đến gặp K vay 3.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), sau 01 tháng anh T1 đã trả số tiền gốc, tiền lãi đã trả là 360.000 đồng. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 360.000 đ - ((3.000.000 đ:12x20%)x1)) = 310.000 đồng.

+ Lần 3: ngày 10/6/2018(âm lịch), anh T1 đến gặp K vay 5.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), sau 09 tháng tiền lãi đã trả là 5.400.000 đồng, còn số tiền gốc chưa trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 5.400.000 đ - ((5.000.000 đ:12x20%)x9)) = 4.650.000 đồng.

Số T6 chiếm hưởng bất hợp pháp là: 6.372.223 đồng.

- Trường hợp số 31: Nguyễn Huy H7, sinh năm 1997, trú tại: xóm Đ2 thôn T5, xã M5, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 445).

Ngày 15/3/2019(âm lịch), anh H7 đến gặp K vay 5.000.000 đồng với lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 180%/năm), anh H7 đã trả Đ1 tiền lãi trong 01 tháng với tổng số tiền là 750.000 đồng, số tiền gốc chưa trả.

Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 750.000 đ -((5.000.000 đ:12x20%)x1))= 666.667 đồng.

- Trường hợp số 32: Nguyễn Đ7 T7, sinh năm 1995, trú tại: xóm Đ2 thôn T5, xã M5, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 447).

Ngày 19/9/2018(âm lịch), anh T7 đến gặp K vay 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh T7 đã trả Đ1 tiền gốc, số tiền lãi trả trong 07 tháng là 8.400.000 đồng.

Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 8.400.000đ - ((10.000.000đ:12x20%)x7))= 7.233.333 đồng.

- Trường hợp số 33: Trần Văn Q5, sinh năm 1986, trú tại: Tổ dân phố H5, thị trấn M, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 449).

Ngày 9/3/2018(âm lịch), anh Q5 đến vay K số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh Q5 đã trả số tiền lãi trong 13 tháng là 15.600.000 đồng, số tiền gốc chưa trả.

Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 15.600.000đ - ((10.000.000đ:12x20%)x13))= 13.433.333 đồng.

- Trường hợp số 34: Nguyễn Văn Th10, sinh năm 1990, trú tại: xóm 8, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 451).

+ Lần 1: ngày 7/3/2018(âm lịch), anh Th10 đến gặp K vay 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), để lại 01 CMND mang tên Nguyễn Văn Th10, anh Th10 đã trả số tiền lãi trong 03 tháng là 3.600.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 3.600.000 đ – ((10.000.000 đ:12x20%)x3))= 3.100.000 đồng.

+ Lần 2: ngày 11/6/2018(âm lịch), anh Th10 đến gặp K vay 7.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), để lại 01 CMND mang tên Nguyễn Văn Th10, anh Th10 đã trả số tiền lãi trong 05 tháng là 4.200.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 4.200.000 đ – ((7.000.000 đ:12x20%)x5))= 3.616.667 đồng.

+ Lần 3: ngày 7/7/2018(âm lịch), anh Th10 đến gặp K vay 3.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh Th10 đã trả số tiền lãi trong 01 tháng là 360.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 360.000 đ – ((3.000.000 đ:12x20%)x1))= 310.000 đồng.

+ Lần 4: ngày 23/1/2019(âm lịch), anh Th10 đến gặp K vay 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh Th10 đã trả số tiền lãi trong 01 tháng là 1.200.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 1.200.000 đ – ((10.000.000 đ:12x20%)x1))= 1.033.333 đồng.

Tổng số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 8.060.000 đồng.

- Trường hợp số 35: Đặng Văn Q6, sinh năm 1991, trú tại: xóm 6, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 453).

+ Lần 1: Ngày 3/12/2018(âm lịch), anh Q6 đến vay K số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh Q6 đã trả số tiền lãi trong 04 tháng là 4.800.000 đồng, số tiền gốc chưa trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 4.800.000 đ -((10.000.000 đ:12x20%)x4))= 4.133.333 đồng.

+ Lần 2: Ngày 11/12/2018(âm lịch), anh Q6 đến vay K số tiền 15.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh Q6 đã trả số tiền lãi trong 04 tháng là 7.200.000 đồng, số tiền gốc chưa trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 7.200.000 đ -((15.000.000 đ:12x20%)x4))= 6.200.000 đồng.

Tổng số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 10.333.333 đồng.

- Trường hợp số 36: Mai Xuân H9, sinh năm 1991, trú tại: xóm 2, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 455).

+ Lần 1: Ngày 5/3/2018(âm lịch), anh H9 đến vay K số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh H9 đã trả số tiền lãi trong 11 tháng là 6.600.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 6.600.000 đ - ((5.000.000đ:12x20%)x11))= 5.683.333 đồng.

+ Lần 2: Ngày 8/10/2018(âm lịch), anh H9 đến vay K số tiền 2.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh H9 đã trả số tiền lãi trong 01 tháng 8 ngày là 300.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 300.000đ-((2.000.000đ:12:30x20%)x38))= 257.778 đồng.

Tổng số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 5.941.111 đồng.

- Trường hợp số 37: Đặng C5 Th11, sinh năm 1996, trú tại: xóm 2, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 457).

Ngày 11/12/2018(âm lịch), anh Th11 đến vay K số tiền 2.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh Th11 đã trả số tiền lãi trong 01 tháng là 240.000 đồng, số tiền gốc đã trả.

Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 240.000đ-((2.000.000đ:12x20%)x1))= 206.667 đồng.

- Trường hợp số 38: Trần Xuân H8, sinh năm 1992, trú tại: thôn Ng5, xã Mỹ T6, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 459).

Ngày 21/3/2019(âm lịch), anh H8 đến vay K số tiền 8.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh H8 đã trả số tiền lãi trong 01 tháng là 960.000 đồng, số tiền gốc chưa trả.

Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 960.000đ-((8.000.000đ:12x20%)x1))= 826.667 đồng.

- Trường hợp số 39: Đặng Quốc B5, sinh năm 1989, trú tại: xóm 4, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 461).

+Lần 1: Ngày 7/4/2018(âm lịch), anh B5 đến vay K số tiền 7.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh B5 đã trả số tiền lãi trong 11 tháng là 9.240.000 đồng, số tiền gốc chưa trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 9.240.000đ-((7.000.000đ:12x20%)x11))= 7.956.667 đồng.

+Lần 2: Ngày 8/6/2018(âm lịch), anh B5 đến vay K số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh B5 đã trả số tiền lãi trong 10 tháng là 6.000.000 đồng, số tiền gốc chưa trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 6.000.000đ-((5.000.000đ:12x20%)x10))= 5.166.667 đồng.

Tổng số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 13.123.334 đồng.

- Trường hợp số 40: Đặng Hồng Thuận, sinh năm 1986, trú tại: xóm 6, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 463).

+Lần 1:Ngày 13/3/2018(âm lịch), anh Thuận đến vay K số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh Thuận đã trả số tiền lãi trong 01 tháng là 600.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 600.000 đ - ((5.000.000đ:12x20%)x1))= 5.166.667 đồng.

+Lần 2:Ngày 11/6/2018(âm lịch), anh Thuận đến vay K số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh Thuận đã trả số tiền lãi trong 25 ngày là 500.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 500.000đ - ((5.000.000đ:12:30x20%)x25))= 430.556 đồng.

+Lần 3:Ngày 5/11/2018(âm lịch), anh Thuận đến vay K số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh Thuận đã trả số tiền lãi trong 25 ngày là 1.000.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là:1.000.000đ - ((10.000.000đ:12:30x20%)x25))= 861.111 đồng.

+Lần 4:Ngày 14/11/2018(âm lịch), anh Thuận đến vay K số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh Thuận đã trả số tiền lãi trong 16 ngày là 640.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 640.000đ - ((10.000.000đ:12:30x20%)x16))= 551.111 đồng.

+Lần 5:Ngày 7/12/2018(âm lịch), anh Thuận đến vay K số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh Thuận đã trả số tiền lãi trong 01 tháng 24 ngày là 2.160.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 2.160.000đ - ((10.000.000đ:12:30x20%)x54))= 1.860.000 đồng.

+Lần 6:Ngày 11/2/2018(âm lịch), anh Thuận đến vay K số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh Thuận đã trả số tiền lãi trong 01 tháng là 1.200.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 1.200.000đ - ((10.000.000đ:12x20%)x1))= 1.033.333 đồng.

Tổng số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 9.902.778 đồng.

- Trường hợp số 41: Đặng C5 L5, sinh năm 1975, trú tại: xóm 6, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 465).

+Lần 1: Ngày 10/10/2018(âm lịch), anh L5 đến vay K số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh L5 đã trả số tiền lãi trong 05 tháng là 6.000.000 đồng, số tiền gốc chưa trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 6.000.000đ - ((10.000.000đ:12x20%)x5))= 5.166.667 đồng.

+Lần 2: Ngày 10/3/2019(âm lịch), anh L5 đến vay K số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh L5 chưa trả số tiền lãi, số tiền gốc chưa trả.

Tổng số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 5.166.667 đồng.

- Trường hợp số 42: Đặng C5 G2, sinh năm 1975, trú tại: xóm 4, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 469).

+ Lần 1: Ngày 7/3/2018(âm lịch), anh G2 đến vay K số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh G2 đã trả số tiền lãi trong 07 tháng 11 ngày là 4.420 .000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số

tiền

chiếm

hưởng

bất

hợp

pháp

là:

4.420.000đ-((5.000.000đ:12:30x20%)x221))= 3.806.111 đồng.

+ Lần 2: Ngày 9/4/2018(âm lịch), anh G2 đến vay K số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh G2 đã trả số tiền lãi trong 06 tháng 10 ngày là 3.800.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền

chiếm

hưởng

bất

hợp

pháp

là:

3.800.000đ

-((5.000.000đ:12:30x20%)x190))= 3.272.222 đồng.

+ Lần 3: Ngày 19/5/2018(âm lịch), anh G2 đến vay K số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh G2 đã trả số tiền lãi trong 06 tháng 1 ngày là 3.620.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền

chiếm

hưởng

bất

hợp

pháp

là:

3.620.000đ

-((5.000.000đ:12:30x20%)x181))= 3.117.222 đồng.

+ Lần 4: Ngày 15/8/2018(âm lịch), anh G2 đến vay K số tiền 15.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh G2 đã trả số tiền lãi trong 02 tháng 9 ngày là 4.140.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền

chiếm

hưởng

bất

hợp

pháp

là:

4.140.000đ

-((15.000.000đ:12:30x20%)x69))= 3.565.000 đồng.

+ Lần 5: Ngày 19/12/2018(âm lịch), anh G2 đến vay K số tiền 15.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh G2 đã trả số tiền lãi trong 03 tháng là 5.400.000 đồng, số tiền gốc chưa trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháplà: 5.400.000đ - ((15.000.000đ:12x20%)x3))= 4.650.000 đồng.

+ Lần 6: Ngày 24/01/2019(âm lịch), anh G2 đến vay số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh G2 đã trả số tiền lãi trong 03 tháng là 1.800.000 đồng, số tiền gốc chưa trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 1.800.000đ - ((5.000.000đ:12x20%)x3))= 1.550.000 đồng.

+ Lần 7: Ngày 27/02/2019(âm lịch), anh G2 đến vay K số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh G2 đã trả số tiền lãi trong 02 tháng là 2.400.000 đồng, số tiền gốc chưa trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 2.400.000đ - ((10.000.000đ:12x20%)x2))= 2.066.667 đồng.

Tổng số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 22.027.222 đồng.

- Trường hợp số 43: Đặng Văn C5, sinh năm 1991, trú tại: xóm 2, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định BL 473).

+ Lần 1: Ngày 15/9/2018(âm lịch), anh C5 đến vay K số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144 %/năm), số tiền vay 10.000.000 đồng Đ1 chia ra làm 2 Kh8 vay 5.000.000 đồng. Kh8 vay thứ nhất anh C5 trả lãi trong 4 ngày số tiền 80.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp cho Kh8 vay này là: 80.000đ - ((5.000.000đ:12:30x20%)x4))= 68.889 đồng. Kh8 vay 5.000.000 đồng thứ hai anh C5 trả lãi trong 01 tháng 8 ngày số tiền 760.000 đồng. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp cho Kh8 vay này là: 760.000đ - ((5.000.000đ:12:30x20%)x38))= 654.444 đồng.

+ Lần 2: Ngày 06/11/2018(âm lịch), anh C5 đến vay K số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144 %/năm), anh Hà đã trả số tiền lãi trong 01 tháng 6 ngày là 720.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số

tiền

chiếm

hưởng

bất

hợp

pháp

là

720.000đ

-((5.000.000đ:12:30x20%)x36))= 620.000 đồng.

+ Lần 3: Ngày 08/2/2019(âm lịch), anh C5 đến vay K số tiền 50.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144 %/năm), anh Hà đã trả số tiền lãi trong 01 tháng 2 ngày là 6.400.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 6.400.000đ - ((50.000.000đ:12:30x20%)x32))= 5.511.111 đồng.

Tổng số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 6.854.444 đồng.

- Trường hợp số 44: Trần Văn Đ6, sinh năm 1986, trú tại: xóm 1, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 477).

+ Lần 1: Ngày 20/5/2018(âm lịch), anh Đ6 đến vay K số tiền 30.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144 %/năm), anh Đ6 để lại 01 CMND và 01 SHK, anh Đ6 đã trả số tiền lãi trong 11 tháng là 39.600.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 39.600.000đ-((30.000.000đ:12x20%)x11))= 34.100.000 đồng.

+ Lần 2: Ngày 02/6/2018(âm lịch), anh Đ6 đến vay K số tiền 30.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144 %/năm), anh Đ6 đã trả số tiền lãi trong 11 tháng là 39.600.000 đồng, số tiền gốc chưa trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 39.600.000đ - ((30.000.000đ:12x20%)x11))= 34.100.000 đồng.

+ Lần 3: Ngày 28/9/2018(âm lịch), anh Đ6 đến vay K số tiền 30.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144 %/năm), anh Đ6 đã trả số tiền lãi trong 07 tháng là 25.200.000 đồng, số tiền gốc chưa trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 25.200.000đ - ((30.000.000đ:12x20%)x7))= 21.700.000 đồng.

Tổng số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 89.900.000 đồng.

- Trường hợp số 45: Đặng Đình Cảnh, sinh năm 1973, trú tại: xóm 2, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 481).

Ngày 17/10/2018(âm lịch), anh Cảnh đến vay K số tiền 45.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144 %/năm), anh Cảnh đã trả số tiền lãi trong 08 ngày là 1.440.000 đồng, số tiền gốc đã trả.

Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 1.440.000đ - ((45.000.000đ:12:30x20%)x8))= 1.240.000 đồng.

- Trường hợp số 46: Lại Th11 D, sinh năm 1993, trú tại: 3/422 Trần Hưng Đ6, phường Q4, TP N (BL 483).

Ngày 02/4/2019(âm lịch), anh D đến vay K số tiền 13.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144 %/năm), anh D đã trả số tiền lãi trong 06 ngày là 312.000 đồng, số tiền gốc đã trả.

Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 312.000đ - ((13.000.000đ:12:30x20%)x6))= 268.667 đồng.

3. Đặng Văn Đồng trực T2 làm thủ tục cho 15 khách hàng vay tiền:

- Trường hợp số 47: Đặng Thị L6, sinh năm 1974, trú tại: xóm 2, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 505).

Ngày 8/11/2018(âm lịch), chị L6 đến gặp Đồng vay 85.000.000 đồng với lãi suất là 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 108%/năm), sau 02 tháng 6 ngày chị L6 đã trả số tiền gốc, tiền lãi đã trả là 16.830.000 đồng.

Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 16.830.000đ - ((85.000.000đ:12:30 x20%)x66))= 13.713.333 đồng.

- Trường hợp số 48: Mai Văn B6, sinh năm 1993, trú tại: xóm 6, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 507).

Ngày 3/11/2018(âm lịch), anh B6 đến gặp Đồng vay 3.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), sau 01 tháng anh B6 đã trả số tiền gốc, tiền lãi đã trả là 360.000 đồng.

Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 360.000đ-((3.000.000đ:12x20%)x1))= 310.000 đồng.

- Trường hợp số 49: Đặng Th11 L7, sinh năm 1954, trú tại: xóm 8, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 509).

Ngày 01/5/2018(âm lịch), anh L7 đến gặp Đồng vay 6.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), để lại 01 CMND và 01 SHK, anh L7 đã trả số tiền lãi trong 11 tháng với tổng số tiền là 7.920.000 đồng, còn số tiền gốc chưa trả.

Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 7.920.000đ - ((6.000.000đ:12x20%)x11))= 6.820.000 đồng.

- Trường hợp số 50: Nguyễn Văn L8, sinh năm 1990, trú tại: xóm B, xã M5, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 511).

+ Lần 1: ngày 19/6/2018(âm lịch), anh L8 đến gặp Đồng vay 5.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh L7 đã trả số tiền lãi trong 10 tháng với tổng số tiền là 6.000.000 đồng, số tiền gốc chưa trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 6.000.000đ - ((5.000.000đ:12x20%)x10)) = 5.166.667 đồng.

+ Lần 2: ngày 19/9/2018(âm lịch), anh L8 đến gặp Đồng vay 5.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh L7 đã trả số tiền lãi trong 07 tháng với tổng số tiền là 4.200.000 đồng, số tiền gốc chưa trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 4.200.000đ - ((5.000.000đ:12x20%)x7)) = 3.616.667 đồng.

Tổng số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 8.783.334 đồng.

- Trường hợp số 51: Phạm Văn C7, sinh năm 2000, trú tại: xóm B T5, xã M5, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 513).

Ngày 15/10/2018(âm lịch), anh C7 đến gặp Đồng vay 5.000.000 đồng với lãi suất là 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 108%/năm), anh C7 đã trả Đ1 tiền lãi trong 06 tháng với tổng số tiền là 2.700.000 đồng, số tiền gốc chưa trả.

Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 2.700.000đ - ((5.000.000đ:12x20%)x6))= 2.200.000 đồng.

- Trường hợp số 52: Phạm Mạnh L9, sinh năm 1987, trú tại: Tổ dân phố V1, thị trấn M, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 515).

Ngày 7/7/2018(âm lịch), anh L9 đến vay Đồng số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), để lại 01 CMND mang tên Phạm Mạnh L9, anh L9 đã trả số tiền lãi trong 05 tháng là 3.000.000 đồng, số tiền gốc đã trả.

Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 3.000.000đ-((5.000.000đ:12x20%)x5))= 2.583.333 đồng.

- Trường hợp số 53: Trần Đ7 Anh, sinh năm 1994, trú tại: Tổ dân phố H5, thị trấn M, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 517).

Ngày 17/10/2018(âm lịch), anh Anh đến vay Đồng số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh Anh đã trả số tiền lãi trong 28 ngày là 560.000 đồng, số tiền gốc đã trả.

Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 560.000đ - ((5.000.000đ:12:30x20%)x28))= 482.222 đồng.

- Trường hợp số 54: Phạm Văn Đ7, sinh năm 1997, trú tại Đ8, xã M6, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 519).

Ngày 6/12/2018(âm lịch), anh Đ7 đến vay Đồng số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất là 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 108%/năm), anh Đ7 đã trả số tiền lãi trong 02 tháng 5 ngày là 975.000 đồng, số tiền gốc đã trả.

Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 975.000đ - ((5.000.000đ:12:30x20%)x65)) = 794.444 đồng.

- Trường hợp số 55: Đặng M2 Ph3, sinh năm 2000, trú tại: xóm 5, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 521).

Ngày 10/5/2018(âm lịch), anh Ph3 đến vay Đồng số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 180%/năm), anh Ph3 đã trả số tiền lãi trong 04 tháng là 3.000.000 đồng, số tiền gốc đã trả.

Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 3.000.000đ-((5.000.000đ:12x20%)x4)) = 2.666.667 đồng.

- Trường hợp số 56: Đặng Đình T8, sinh năm 1989, trú tại: Tổ dân phố H3, thị trấn M, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 523).

Ngày 26/7/2018(âm lịch), anh T8 đến vay Đồng số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), để lại 01 CMND mang tên Đặng Đình T8, anh T8 đã trả số tiền lãi trong 01 tháng là 1.200.000 đồng, số tiền gốc đã trả.

Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 1.200.000đ-((10.000.000đ:12x20%)x1)) = 1.033.333 đồng.

- Trường hợp số 57: Trần Đ7 H10, sinh năm 1988, trú tại: Thôn L9, xã Mỹ T6, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 525).

+ Lần 1: Ngày 22/5/2018(âm lịch), anh H10 đến gặp Đồng vay 15.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh H10 đã trả số tiền lãi trong 8 ngày với tổng số tiền là 480.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 480.000đ – ((15.000.000đ :12:30x20%)x8))= 413.333 đồng.

+ Lần 2: Ngày 9/10/2018(âm lịch), anh H10 đến vay 20.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh H10 đã trả số tiền lãi trong 01 tháng với tổng số tiền là 2.400.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 2.400.000đ – ((20.000.000đ :12x20%)x1))= 2.066.667 đồng.

+ Lần 3: ngày 13/3/2018(âm lịch), anh H10 đến vay 20.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh H10 đã trả số tiền lãi trong 01 tháng với tổng số tiền là 2.400.000 đồng, còn số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 2.400.000đ – ((20.000.000đ :12x20%) x1))= 2.066.667 đồng.

Tổng số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 4.546.667 đồng.

- Trường hợp số 58: Trần Văn D5, sinh năm 1985, trú tại: xóm 1, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 527).

+ Lần 1: ngày 11/8/2018(âm lịch), anh D5 đến gặp Đồng vay 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh D5 đã trả số tiền lãi trong 05 ngày với tổng số tiền là 200.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 200.000đ – ((10.000.000đ:12:30x20%)x5))= 172.222 đồng.

+ Lần 2: ngày 24/8/2018(âm lịch), anh D5 đến gặp Đồng vay 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh D5 đã trả số tiền lãi trong 06 tháng 25 ngày với tổng số tiền là 8.200.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 8.200.000đ – ((10.000.000đ:12:30x20%)x205))= 7.061.111 đồng.

Tổng số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 7.233.333 đồng.

- Trường hợp số 59: Đặng C5 D6, sinh năm 1984, trú tại: xóm 5, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 529).

+ Lần 1: Ngày 20/10/2018(âm lịch), anh D6 đến vay Đồng số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh D6 đã trả số tiền lãi trong 05 tháng là 6.000.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 6.000.000đ-((10.000.000đ:12x20%)x5))= 5.166.667 đồng.

+ Lần 2: Ngày 23/02/2019(âm lịch), anh D6 đến vay Đồng số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144 %/năm), anh D6 đã trả số tiền lãi trong 02 tháng là 2.400.000 đồng, số tiền gốc chưa trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 2.400.000đ-((10.000.000đ:12x20%)x2))= 2.066.667 đồng.

Tổng số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 7.233.334 đồng.

- Trường hợp số 60: Đặng Văn Hà, sinh năm 1978, trú tại: xóm 3, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 534).

+ Lần 1: Ngày 12/01/2019(âm lịch), anh Hà đến vay số tiền 20.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh Hà đã trả số tiền lãi trong 01 tháng là 2.400.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 2.400.000đ-((20.000.000đ:12x20%)x1))= 2.066.667 đồng.

+ Lần 2: Ngày 17/02/2019(âm lịch), anh Hà đến vay số tiền 15.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh Hà đã trả số tiền lãi trong 01 tháng là 1.800.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 1.800.000đ-((15.000.000đ:12x20%)x1))= 1.550.000 đồng.

+ Lần 3: Ngày 30/02/2019(âm lịch), anh Hà đến vay số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh Hà đã trả số tiền lãi trong 01 tháng là 1.200.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 1.200.000đ-((10.000.000đ:12x20%)x1))= 1.033.333 đồng.

+ Lần 4: Ngày 04/3/2019(âm lịch), anh Hà đến vay số tiền 25.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh Hà đã trả số tiền lãi trong 01 tháng là 3.000.000 đồng, số tiền gốc chưa trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 3.000.000đ-((25.000.000đ:12x20%)x1))= 2.583.333 đồng.

Tổng số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 7.233.333 đồng.

- Trường hợp số 61: Đặng Đình H11, sinh năm 1987, trú tại: xóm 3, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 536).

+ Lần 1: Ngày 26/4/2018(âm lịch), anh H11 đến vay Đồng số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh H11 đã trả số tiền lãi trong 10 tháng là 12.000.000 đồng, số tiền gốc chưa trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 12.000.000đ-((10.000.000đ:12x20%)x10))= 10.333.333 đồng.

+ Lần 2: Ngày 29/4/2018(âm lịch), anh H11 đến vay Đồng số tiền 20.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh H11 đã trả số tiền lãi trong 11 tháng là 26.400.000 đồng, số tiền gốc chưa trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 26.400.000đ - ((20.000.000đ:12x20%)x11)) = 22.733.333 đồng.

Tổng số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 33.066.666 đồng.

4. Đặng Đình D trực T2 làm thủ tục cho 14 khách hàng vay tiền:

-Trường hợp số 62: Trần Mạnh H9, sinh năm 1990, trú tại: thôn Đoài, xã M8, huyện M, tỉnh Nam Định (BL551).

Ngày 12/5/2018(âm lịch), anh H9 đến gặp D vay 20.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), sau 11 tháng anh H9 đã trả số tiền lãi là 26.400.000 đồng (hai mươi sáu triệu bốn trăm nghìn đồng), số tiền gốc chưa trả.

Theo quy định của BLDS 2015, số tiền chiếm hưởng hợp pháp của D là 20%/năm của Kh8 tiền vay (tức là tiền gốc). Như vậy, số tiền chiếm hưởng hợp pháp của 11 tháng (tức 330 ngày) trong trường hợp này là: (20.000.000đ:12x20%)x11=3.666.667 đồng

Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 26.400.000đ - 3.666.666đ=22.733.333 đồng

- Trường hợp số 63: Lê Văn H12, sinh năm 1988, trú tại: Tổ dân phố Mỹ Tục, thị trấn M, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 553):

Ngày 01/4/2018(âm lịch), anh H12 đến vay D số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất là 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 180%/năm), để lại 01 CMND mang tên Lê Văn H12, anh H12 đã trả số tiền lãi trong 11 ngày là 275.000 đồng, số tiền gốc đã trả.

Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 275.000đ - ((5.000.000đ:12:30x20%)x11))= 244.444 đồng.

- Trường hợp số 64: Phạm Q6 S3, sinh năm 1995, trú tại: Thôn Đ8, xã M6, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 555).

+ Lần 1: Ngày 20/7/2018(âm lịch), anh S3 đến vay D số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), để lại 01 CMND mang tên Phạm Q6 S3, anh S3 đã trả số tiền lãi trong 01 tháng 18 ngày là 960.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 960.000đ-((5.000.000đ:12:30x20%)x48))= 826.667 đồng.

+ Lần 2: Ngày 29/10/2018(âm lịch), anh S3 đến vay D số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh S3 đã trả số tiền lãi trong 6 tháng là 3.600.000 đồng, số tiền gốc chưa trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 3.600.000đ-((5.000.000đ:12x20%)x6))= 3.100.000 đồng.

Tổng số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 3.926.667 đồng.

- Trường hợp số 65: Trần Đình Q7, sinh năm 1989, trú tại: Thôn Đ8, xã M6, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 557):

+ Lần 1: Ngày 23/4/2018(âm lịch), anh Q7 đến vay D số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh Q7 đã trả số tiền lãi trong 03 tháng 20 ngày là 4.400.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền

chiếm

hưởng

bất

hợp

pháp

là:

4.400.000đ-((10.000.000đ:12:30x20%)x110))= 3.788.889 đồng.

+ Lần 2: Ngày 27/8/2018(âm lịch), anh Q7 đến vay số tiền 20.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh Q7 đã trả số tiền lãi trong 01 tháng là 2.400.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 2.400.000đ-((20.000.000đ:12x20%)x1))= 2.066.667 đồng.

+ Lần 3: Ngày 27/12/2018(âm lịch), anh Q7 đến vay số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh Q7 đã trả số tiền lãi trong 01 tháng 5 ngày là 1.400.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền

chiếm

hưởng

bất

hợp

pháp

là:

1.400.000đ-((10.000.000đ:12:30x20%)x35))= 1.205.556 đồng.

Tổng số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 7.061.112 đồng.

- Trường hợp số 66: Trần Văn C7, sinh năm 1995, trú tại: Thôn L9, xã Mỹ T6, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 559):

Ngày 20/6/2018(âm lịch), anh C7 đến vay D số tiền 15.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), để lại 01 CMND mang tên Trần Văn C7, anh C7 đã trả số tiền lãi trong 10 tháng là 18.000.000 đồng, số tiền gốc chưa trả.

Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 18.000.000đ-((15.000.000đ:12x20%)x10))= 15.500.000 đồng.

- Trường hợp số 67: Đặng C5 H9, sinh năm 1989, trú tại: xóm 5, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 561).

+ Lần 1: ngày 09/10/2018(âm lịch), anh H9 đến vay D số tiền 2.000.000 đồng với lãi suất là 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 108%/năm), anh H9 đã trả số tiền lãi trong 04 tháng là 720.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 720.000đ-((2.000.000đ:12x20%)x4))= 586.667 đồng.

+ Lần 2: ngày 29/1/2018(âm lịch), anh H9 đến vay D số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 108%/năm), anh H9 đã trả số tiền lãi trong 01 tháng là 900.000 đồng thì trả số tiền gốc 5.000.000 đồng, sau đó trả tiền lãi trong 01 tháng (của số tiền gốc 5.000.000 đồng còn lại) là 450.000 đồng, số tiền gốc 5.000.000 đồng chưa trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 900.000đ-((10.000.000đ:12x20%)x1) + 450.000đ-((5.000.000đ:12x20%)x1))= 1.100.000 đồng.

Tổng số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 1.686.667 đồng.

- Trường hợp số 68: Lê Q6 Khôi, sinh năm 1991, trú tại: B Lê Xá, thị trấn M, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 563):

Ngày 25/3/2018(âm lịch), anh Kh7đến vay D số tiền 15.000.000 đồng với lãi suất tháng đầu tiên là 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 180%/năm), lãi suất tình từ tháng thứ hai trở đi là 4000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm) để lại 01 GPLX mang tên Lê Q6 Khôi, anh Kh7đã trả số tiền lãi trong 9 tháng là 16.650.000 đồng, số tiền gốc chưa trả.

Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 16.650.000đ - ((15.000.000đ:12x20%)x9)) = 14.400.000 đồng.

- Trường hợp số 69: Trịnh Đình L7, sinh năm 1985, trú tại: xóm Nam T5, xã M5, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 565):

+Lần 1: Ngày 21/7/2018(âm lịch), anh L7 đến vay D số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh L7 đã trả số tiền lãi trong 09 tháng là 10.800.000 đồng, số tiền gốc chưa trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 10.800.000đ-((10.000.000đ:12x20%)x9))= 9.300.000 đồng.

+Lần 2: Ngày 26/7/2018(âm lịch), anh L7 đến vay D số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh L7 đã trả số tiền lãi trong 09 tháng là 5.400.000 đồng, số tiền gốc chưa trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 5.400.000đ - ((5.000.000đ:12x20%)x9))= 4.650.000 đồng.

+Lần 3: Ngày 14/9/2018(âm lịch), anh L7 đến vay D số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh L7 đã trả số tiền lãi trong 07 tháng là 4.200.000 đồng, số tiền gốc chưa trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 4.200.000đ - ((5.000.000đ:12x20%)x7))= 3.616.667 đồng.

+Lần 4: Ngày 11/02/2019(âm lịch), anh L7 đến vay D số tiền 2.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh L7 đã trả số tiền lãi trong 4 ngày là 32.000 đồng thì thì vay thêm số tiền là 6.000.000 đồng và nhập hai mã vay 2.000.000 đồng và 6.000.000 đồng lại làm một mã vay 8.000.000 đồng trả lãi từ ngày 15/02/2019, anh L7 đã trả lãi số tiền vay 8.000.000 đồng trong 02 tháng số tiền là 1.920.000 đồng. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 32.000đ - ((2.000.000đ:12:30x20%)x4)) + 1.920.000đ - ((8.000.000đ:12x20%)x2))= 1.680.889 đồng.

Tổng số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 19.247.556 đồng.

- Trường hợp số 70: Hàn Thúy H12, sinh năm 2001, trú tại: xóm Bến, xã M5, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 567):

Ngày 26/11/2018(âm lịch), chị H12 đến vay D số tiền 4.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), chị H12 đã trả số tiền lãi trong 05 tháng là 2.400.000 đồng, số tiền gốc chưa trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 2.400.000đ-((4.000.000đ:12x20%)x5))= 2.066.667 đồng.

- Trường hợp số 71: Trần Hữu Kh8, sinh năm 1972, trú tại: số nhà 12/15 Ngô Gia Tự, phường Thống Nhất, TP N (BL 569):

Ngày 16/5/2018(âm lịch), anh Kh8 đến vay D số tiền 20.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144 %/năm), anh Kh8 đã trả số tiền lãi trong 10 tháng là 24.000.000 đồng, số tiền gốc chưa trả.

Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 24.000.000đ-((20.000.000đ:12x20%)x10))= 20.666.667 đồng.

- Trường hợp số 72: D3 Văn Kh8, sinh năm 1981, trú tại: ngách 121 ngõ 97, đường Trường Trinh , TP N (BL 571):

+Lần 1: Ngày 24/4/2018(âm lịch), anh Kh8 đến vay D số tiền 40.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144 %/năm), để lại 01 CMND mang tên Đặng Văn Kh8, anh Kh8 đã trả số tiền lãi trong 10 tháng là 48.000.000 đồng, số tiền gốc chưa trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 48.000.000đ-((40.000.000đ:12x20%)x10))= 41.333.333 đồng.

+Lần 2: Ngày 30/4/2018(âm lịch), anh Kh8 đến vay D số tiền 20.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144 %/năm), anh Kh8 đã trả số tiền lãi trong 10 tháng là 24.000.000 đồng, số tiền gốc chưa trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 24.000.000đ-((20.000.000đ:12x20%)x10))= 20.666.667 đồng.

Tổng số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 62.000.000 đồng.

- Trường hợp số 73: Đặng C5 Kh8, sinh năm 1986, trú tại: xóm 5, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 573).

Ngày 10/5/2018(âm lịch), anh Kh8 đến vay D số tiền 20.000.000 đồng với lãi suất là 3.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 108%/năm), anh Kh8 đã trả số tiền lãi trong 01 tháng 13 ngày là 2.580.000 đồng, số tiền gốc đã trả.

Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là 2.580.000đ-((20.000.000đ:12:30x20%)x43))= 2.102.222 đồng.

- Trường hợp số 74: Đặng Hữu S4, sinh năm 1983, trú tại: xóm 2, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 575).

+ Lần 1: Ngày 06/6/2018(âm lịch), anh S4 đến vay D số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh S4 đã trả số tiền lãi trong 01 tháng 18 ngày là 960.000 đồng, số tiền gốc đã trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 960.000đ-((5.000.000đ:12:30x20%)x48))= 826.667 đồng.

+ Lần 2: Ngày 29/10/2018(âm lịch), anh S4 đến vay K số tiền 5.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh S4 đã trả số tiền lãi trong 6 tháng là 3.600.000 đồng, số tiền gốc chưa trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 3.600.000đ-((5.000.000đ:12x20%)x6))= 3.100.000 đồng.

Tổng số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 3.926.667 đồng.

- Trường hợp số 75: Đặng Q6 Kh9, sinh năm 1982, trú tại: Tổ dân phố H3, thị trấn M, huyện M, tỉnh Nam Định (BL 577):

+ Lần 1: Ngày 18/6/2018(âm lịch), anh Kh9 đến vay D số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh Kh9 đã trả số tiền lãi trong 10 tháng là 12.000.000 đồng, số tiền gốc chưa trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 12.000.000đ-((10.000.000đ:12x20%)x10))= 10.333.333 đồng.

+ Lần 2: Ngày 20/7/2018(âm lịch), anh Kh9 đến vay D số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất là 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày (tương đương 144%/năm), anh Kh9 đã trả số tiền lãi trong 09 tháng là 10.800.000 đồng, số tiền gốc chưa trả. Số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 10.800.000đ-((10.000.000đ:12x20%)x9)) = 9.300.000 đồng.

Tổng số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp là: 19.633.333 đồng.

Tổng số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp B, D, N10, K thu của 75 trường hợp trên là 687.602.444 đồng (Sáu trăm tám bảy triệu sau trăm L5 hai nghìn bốn trăm bốn bốn đồng). Đối với Đồng chỉ làm thuê cho D, B đến ngày 25/4/2019 thì thôi không làm nữa, nên trong 75 trường hợp vay tiền nêu trên có 02 trường hợp vay sau ngày 25/4/2019. Vì vậy Đồng liên đới chịu trách nhiệm số tiền chiếm hưởng bất hợp pháp 73 trường hợp vay tiền là 686.507.110 đồng.

Kết luận giám định số 555/KLGĐ-PC09 ngày 18/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình S4 - C5 an tỉnh Nam Định kết luận chữ viết tại sổ “Thu” là chữ viết của Trần Xuân B.

Ngày 23/5/2019 Cơ quan CSĐT - C5 an tỉnh Nam Định ra Quyết định khởi tố vụ án hình S4; Quyết định khởi tố bị can và ra Lệnh tạm giam đối với Đặng Văn N10, Đặng Đình K, Đặng Văn Đồng; ngày 25/7/2019 ra Quyết định khởi tố bị can và ra lệnh truy nã đối với Trần Xuân B, Đặng Đình D về hành vi “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân S4” theo quy định tại Điều 201 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Ngày 08/8/2019 do chưa bắt Đ1 B, D, Cơ quan CSĐT - C5 an tỉnh Nam Định đã ra bản kết luận điều tra đề nghị Viện kiểm sát nH3dân tỉnh Nam Định truy tố đối với các bị cáo N10, K, Đồng, đồng thời ra Quyết định tách vụ án hình S4 (Tách hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân S4 của bị cáo B và D) để T2 tục điều tra. Đến ngày 23/8/2019, do hết thời hạn điều tra vụ án, nên Cơ quan CSĐT - C5 an tỉnh Nam Định đã ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình S4, Quyết định tạm đình chỉ điều tra bị can đối với Trần Xuân B, Đặng Đình D.

Ngày 25/10/2019, Trần Xuân B, Đặng Đình D đến Cơ quan CSĐT - C5 an tỉnh Nam Định để đầu thú. Tại Cơ quan CSĐT - C5 an tỉnh Nam Định, B, D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Đối với Đặng Văn N10, Đặng Đình K, Đặng Văn Đồng đã bị TAND tỉnh Nam Định xét xử ngày 14/10/2019.

Đối với vật chứng thu giữ trong vụ án đã Đ1 giải quyết bằng Bản án hình S4 sơ thẩm số 78/2019/HSST ngày 14/10/2019 của TAND tỉnh Nam Định.

Đối với ông Đặng C5 Tưởng: Ông Tưởng cho N10, B thuê nhà nhưng không biết cửa hiệu cầm đồ D N10 có hoạt động cho vay lãi nặng trong giao dịch dân S4. Vì vậy Cơ quan CSĐT - C5 an tỉnh Nam Định không đề cập xử lý đối với ông Tưởng.

Đối với ông Đặng D M2 (là bố đẻ của bị cáo D): Do ông M2 không biết D sử dụng số tiền 200 triệu đồng vào mục đích cho vay lãi nặng trong giao dịch dân S4. Vì vậy Cơ quan CSĐT - C5 an tỉnh Nam Định không đề cập xử lý đối với ông M2.

Về trách nhiệm dân S4: Để đảm B5 quyền, L3 ích hợp pháp của những người có quyền L3, nghĩa vụ liên quan, nên Bản án hình S4 sơ thẩm số 78/2019/HSST ngày 14/10/2019 của TAND tỉnh Nam Định tuyên bị cáo Đặng Văn N10 pH bồi thường cho những người có quyền L3, nghĩa vụ liên quan số tiền 300.000.000 triệu đồng, bị cáo Đặng Đình K pH bồi thường số tiền 250.000.000 đồng, bị cáo Đặng Văn Đồng pH bồi thường số tiền 137.602.444 đồng. Tuy nhiên, sau khi B, D ra đầu thú đã xác định số tiền này B và D cùng nhau chiếm hưởng bất chính. Vì vậy B, D pH liên đới trả lại số tiền 687.602.444 đồng cho những người có quyền L3, nghĩa vụ liên quan.

Cáo trạng số 100/CT-VKS-P3 ngày 30/11/2019 của Viện kiểm sát nH3dân tỉnh Nam Định đã truy tố các bị cáo Đặng Đình D, Trần Xuân B về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân S4” theo quy định tại Kh8 2 Điều 201 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay: Các bị cáo Đặng Đình D, Trần Xuân B đã thành Kh1 khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Đ diện Viện kiểm sát nH3dân tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa đã luận tội đối với các bị cáo sau khi pH3tích tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình S4, đã đề nghị HĐXX:

- Áp dụng Kh8 2 Điều 201; điểm s Kh8 1, Kh8 2 Điều 51; điểm g Kh8 1 Điều 52; Điều 17, 58 Bộ luật hình S4 năm 2015: Xử phạt bị cáo Đặng Đình D từ 15 đến 18 tháng tù, về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân S4”. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Áp dụng Kh8 2 Điều 201; điểm s Kh8 1, Kh8 2 Điều 51; điểm g Kh8 1 Điều 52; Điều 17, 58 Bộ luật hình S4 năm 2015: Xử phạt bị cáo Trần Xuân B từ 11 đến 14 tháng tù, về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân S4”. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân S4: Buộc bị cáo pH có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho những người bị hại, toàn bộ số tiền chiếm hưởng bất chính mà các bị cáo đã chiếm đoạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cở sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã Đ1 tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra C5 an tỉnh Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nH3dân tỉnh Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình S4. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền L3 và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc kH12 nại về hành vi, quyết định của Cơ quan T6 hành tố tụng, người T6 hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan T6 hành tố tụng, người T6 hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Kh8g tháng 4/2018, Đặng Văn N10 thuê nhà ông Đặng C5 Tưởng ở xóm 4, xã M1, huyện M, tỉnh Nam Định để mở cửa hiệu cầm đồ “D N10” kinh D6 cầm đồ. L3 dụng việc kinh D6 cầm đồ, Đặng Văn N10 thống nhất, góp vốn cùng Trần Xuân B (mỗi người góp 100 triệu đồng) để cho vay tiền lấy lãi. Đặng Văn N10 rủ thêm Đặng Đình D, Đặng Đình K, Đặng Văn Đồng cùng làm. Cửa hiệu cầm đồ hoạt động Đ1 một tháng thì N10 rút toàn bộ tiền gốc, nhưng vẫn T2 tục làm cho cửa hiệu. Lúc này, D góp số tiền 500 triệu đồng cùng B T2 tục thực hiện hoạt động cho vay tiền lấy lãi. B, D, N10, K, Đồng đã cho 75 trường hợp vay tiền lấy lãi với lãi xuất từ 3.000 đồng/1 triệu/ 1 ngày tương đương 108%/năm; 4.000 đồng/1 triệu/1 ngày tương đương 144%/năm hoặc 5.000 đồng/1 triệu/1 ngày tương đương 180%/năm vượt quá 05 lần mức lãi xuất do bộ Luật Dân S4 năm 2015 quy định (20%/năm); tổng số tiền thu lời bất chính là 687.602.444 đồng. Số tiền này D và B thống nhất sau khi trừ đi các chi phí sinh hoạt của cửa hiệu như trả tiền thuê cửa hiệu, tiền điện nước, tiền C5…., số tiền còn thừa sẽ nhập vào tiền gốc T2 tục cho khách vay, sau đó sẽ chia theo tỷ lệ góp vốn là B hưởng 20%, còn D hưởng 80%.

Như vậy hành vi của các bị cáo Đặng Đình D, Trần Xuân B đã có đủ các yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân S4” theo quy định tại Kh8 2 Điều 201 BLHS năm 2015 như cáo trạng của Viện kiểm sát nH3dân tỉnh Nam Định đã truy tố đối với các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ. Hành vi phạm tội của các bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý trong lĩnh vực kinh D6 tiền tệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an N10 và trật tự an toàn xã hội, bản tH3các bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật hình S4. Vì vậy cần pH xử phạt nghiêm M2 đối với các bị cáo.

Về vai trò của các bị cáo:

Trong vụ án này, bị cáo D là người góp phần lớn số vốn vào hoạt động cho vay lãi nặng (góp 500 triệu đồng); là người trực T2 cho khách hàng vay tiền và trực T2 gọi điện thoại nhắc nhở những khách hàng chậm nộp tiền lãi, tiền gốc. Vì vậy bị cáo giữ vai trò thứ nhất trong vụ án. Bị cáo B là người góp một phần vốn (100 triệu đồng) vào hoạt động cho vay lãi nặng; có nhiệm vụ quản lý việc thu, chi tiền. Vì vậy bị cáo giữ vai trò thứ hai trong vụ án.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình S4:

Các tình tiết, giảm nhẹ trách nhiệm hình S4: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo D, B đã thành Kh1 khai báo; Vì vậy cần xem xét cho các bị cáo Đ1 hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình S4 Đ1 quy định tại điểm s Kh8 1 Điều 51 BLHS năm 2015. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo ra đầu thú. Bị cáo B có bố đẻ là ông Trần Xuân Sắc, là thương binh. Vì vậy cần xem xét cho các bị cáo D, B Đ1 hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình S4 quy định tại Kh8 2 Điều 51 BLHS năm 2015.

Về tình tiết, tăng nặng trách nhiệm hình S4: Các bị cáo pH chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình S4 “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g Kh8 1 Điều 52 BLHS năm 2015.

Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình S4 và nH3tH3của bị cáo. HĐXX xét thấy cần áp dụng Kh8 2 Điều 201 BLHS năm 2015, để xử phạt đối với các bị cáo và cần thiết pH cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, để cải tạo giáo dục đối với các bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.

Về trách nhiệm dân S4: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cho thấy đối với số tiền chiếm hưởng bất chính của những người có quyền L3, nghĩa vụ liên quan là 687.602.444 đồng đều do các bị cáo D, B chiếm hưởng, không pH3chia cho các bị cáo N10, K, Đồng. Tuy nhiên các bị cáo N10, K, Đồng Đ1 xác định là đồng phạm với các bị cáo D, B trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội; do việc các bị cáo D, B bỏ trốn chưa bắt Đ1. Vì vậy để đảm B5 quyền và L3 ích hợp pháp của những người có quyền L3, nghĩa vụ liên quan trong vụ án; tại bản án hình S4 sơ thẩm số 78/2019/HSST ngày 14/10/2019 của TAND tỉnh Nam Định đã tuyên các bị cáo N10, K, Đồng pH có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho những người có quyền L3, nghĩa vụ liên quan. Cụ thể bị cáo Đặng Văn N10 pH bồi thường số tiền 300.000.000 triệu đồng, bị cáo Đặng Đình K pH bồi thường số tiền 250.000.000 đồng, bị cáo Đặng Văn Đồng pH bồi thường số tiền 137.602.444 đồng. Vì vậy về trách nhiệm dân S4 của các bị cáo đối với những người có quyền L3 và nghĩa vụ liên quan đã Đ1 giải quyết xong. Về nghĩa vụ liên đới của các bị cáo Đặng Đình D, Trần Xuân B đối với các bị cáo Đặng Văn N10, Đặng Đình K Đặng Văn Đồng sẽ Đ1 giải quyết bằng vụ án dân S4 khác, khi nào có yêu cầu của các bị cáo Đặng Văn N10, Đặng Đình K Đặng Văn Đồng.

Đối với Kh8 tiền người phạm tội dùng để cho vay và Kh8 tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm Đ1 xác định là phương tiện phạm tội. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ cho thấy số tiền mà bị cáo Đặng Đình D dùng để cho vay (Tiền gốc) là 500 triệu đồng, Kh8 tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm trong thời gian từ tháng 7 năm 2018 đến tháng 4 năm 2019 mà bị cáo chiếm hưởng là 74.700.000 đồng; tổng cộng là 574.700.000 đồng. Đối với bị cáo Trần Xuân B số tiền mà bị cáo dùng để cho vay (Tiền gốc) là 100 triệu đồng, Kh8 tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm trong thời gian từ tháng 4 năm 2018 đến tháng 4 năm 2019 mà bị cáo chiếm hưởng là 20 triệu đồng; tổng cộng là 120.000.000 đồng. Do vậy cần tuyên truy thu sung quỹ nhà nước đối với toàn bộ số tiền của các bị cáo Đặng Đình D và Trần Xuân B như đã nói trên.

Về án phí: Các bị cáo Đặng Đình D, Trần Xuân B pH nộp án phí hình S4 sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Đặng Đình D, Trần Xuân B phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân S4”.

- Áp dụng Kh8 2 Điều 201; điểm s Kh8 1, Kh8 2 Điều 51; điểm g Kh8 1 Điều 52; Điều 17, 58 Bộ luật hình S4 năm 2015: Xử phạt bị cáo Đặng Đình D 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành bản án; Đ1 trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ (từ ngày 25/10/2019 đến 29/10/2019), về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân S4”. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Áp dụng Kh8 2 Điều 201; điểm s Kh8 1, Kh8 2 Điều 51; điểm g Kh8 1 Điều 52; Điều 17, 58 Bộ luật hình S4 năm 2015: Xử phạt bị cáo Trần Xuân B 11 (Mười một) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành bản án; Đ1 trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ (từ ngày 25/10/2019 đến 29/10/2019), về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân S4”. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Truy thu của bị cáo Đặng Đình D dùng để cho vay (Tiền gốc) là 500.000.000 triệu đồng, Kh8 tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm mà bị cáo chiếm hưởng là 74.700.000 đồng; tổng cộng là 574.700.000đ (Năm trăm bảy mươi tư triệu bảy trăm nghìn đồng), để sung quỹ Nhà nước.

3. Truy thu của bị cáo Trần Xuân B số tiền mà bị cáo dùng để cho vay (Tiền gốc) là 100.000.000 đồng, Kh8 tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm mà bị cáo chiếm hưởng là 20.000.000 đồng; tổng cộng là 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng), để sung quỹ Nhà nước.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 135 Bộ luật tố tụng hình S4 năm 2015; Nghị Quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí tòa án.

Buộc các bị cáo Đặng Đình D, Trần Xuân B mỗi bị cáo pH nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình S4 sơ thẩm

Án xử C5 khai sơ thẩm có mặt các bị cáo đã báo quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền L3, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, Đ1 quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận Đ1 bản án.

Trường hợp bản án, quyết định Đ1 thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân S4 thì người Đ1 thi hành án, người pH thi hành án dân S4 có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9, thời hiệu thi hành án Đ1 thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân S4./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ