vanban.org

Bản án 03/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Liên Chiểu, TP Đà Nẵng Tuyên án 13/01/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn T và Hồ Đắc T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 12 (mười hai) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/9/2019. Xử phạt: Bị cáo Hồ Đắc T1 09 (chín) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/9/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Văn T và Hồ Đắc T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn T và Hồ Đắc T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
Q.LIÊN CHIỂU-TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2020/HS-ST
Ngày: 13/01/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU - TP ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Văn Trình

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trƣơng Thị Mỹ Hạnh

Ông Nguyễn Văn Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Phƣơng Thùy – Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, Tp Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu- TP Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Võ Quang Tiến – Kiểm sát viên.

Ngày 13/01/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 153/2020/TLST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2019/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn T – Sinh ngày 16 tháng 01 năm 1997, tại TP. Đà Nẵng; NĐKHKTT: Tổ 27 (37 cũ), phường H, quận L, TP. Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh, Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con Nguyễn Văn T, sinh năm: 1970 và bà: Ngô Thị L, sinh năm: 1970; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai;

Tiền án, Tiền sự: Chưa;

Nhân thân: Ngày 02/5/2015, bị Công an quận Liên Chiểu xử phạt hành chính về hành vi cố ý gây thương tích.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 30/9/2019, có mặt tại phiên tòa.

2. Hồ Đắc T1 – Sinh ngày 30 tháng 9 năm 1996, tại TP. Đà Nẵng; NĐKHKTT: Số 43 đường P, phường T, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: (Không rõ). Con bà: Hồ Thị Diệu O, sinh năm: 1972; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con đầu;

Tiền án, tiền sự: Chưa;

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 30/9/2019, có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

+ Anh Trần Công T2 – sinh năm 2000, địa chỉ: Thôn N2, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam, có đơn xin vắng mặt.

+ Anh Trịnh Ngọc T3 – sinh năm 1993, địa chỉ: K65/53 đường P, phường H, quận Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng; Vắng mặt

Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Nguyễn Thị H – sinh năm 1997, địa chỉ: k129/41 đường P, phường H, quận Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng; Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 30/9/2019, tổ tuần tra 8394 phường Hòa Khánh Nam, Q. Liên Chiểu thấy Nguyễn Văn T và Hồ Đắc T1 có biểu hiện nghi vấn nên mời về Công an phường làm việc thì T và T1 đã khai nhận:

Khoảng 12h00 ngày 29/9/2019, Nguyễn Văn T rủ Hồ Đắc T1 (bạn của T) đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, T1 đồng ý và điều khiển xe mô tô hiệu Dream, biển kiểm soát 43K8- xxx9 chở T đi quanh để xem chỗ nào sở hở thì trộm cắp tài sản. Khi đi đến dãy nhà trọ ở tại kiệt 81/10 đường P, P. Hòa Khánh Nam, Q. Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng T nói với T1 dừng xe lại và đứng ở ngoài canh chừng, còn T đi vào trong dãy trọ, T lấy thanh sắt ở gần đó phá bung móc khóa rồi vào bên trong lấy trộm 01 máy tính xách tay hiệu Dell màu đen để trong túi đựng máy tính của anh Trần Công T2. Sau đó, T1 chở T đến tiệm mua bán máy tính, điện thoại T tại số 546 đường N, P. Hòa Khánh Bắc, Q. Liên Chiểu bán cho anh Nguyễn Ngọc Q (Sinh năm: 1991) với giá 1.200.000 đồng. Số tiền này T giữ để cả hai cùng tiêu xài. Còn 01 túi đựng máy tính xách tay có dòng chữ Dell T đem về nhà nghỉ N cất giấu.

Theo Kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự số: 80/KL-HĐĐG ngày 02/10/2019 kết luận: Giá trị của 01 máy tính xách tay hiệu Dell màu đen và 01 túi đựng máy tính màu đen có chữ Dell là 4.200.000 đồng 01 ba lô màu đen có logo in chữ Polo Everest màu đỏ là 100.000 đồng.

Quá trình điều tra Nguyễn Văn T và Hồ Đắc T1 còn khai nhận trước đó đã thực hiện 04 lần trộm cắp tài sản khác trên địa bàn quận Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng, cụ thể như sau:

- Khoảng 12h00 ngày 24/8/2019, T1 điều khiển xe mô tô hiệu Dream, biển kiểm soát 43K8- xxx9 chở T đi qua dãy nhà trọ tại K129/41 đường P, P. Hòa Khánh Nam, Q. Liên Chiểu thì thấy vắng người nên T1 dừng xe lại đứng ngoài canh chừng, còn T đi vào dãy trọ rồi vào phòng trọ của chị Nguyễn Thị H lấy trộm 01 con heo đất màu vàng để dưới giường bên trong có số tiền 350.000 đồng. Sau đó, T đi ra ngoài dãy trọ rồi lên xe T1 chở đi và nói cho T1 biết về tài sản trộm cắp được. Số tiền này T giữ để cả hai sử dụng chung.

- Khoảng 11h00 ngày 25/8/2019, T1 điều khiển xe mô tô hiệu Dream, biển kiểm soát 43K8-xxx9 chở T đi qua dãy nhà trọ tại K65/53 đường P, P. Hòa Khánh Nam, Q. Liên Chiểu thì thấy vắng người nên T1 dừng xe lại đứng ngoài canh chừng, còn T đi vào dãy trọ rồi dùng tuốc nơ vít cạy khóa cửa phòng trọ của anh Trịnh Ngọc T3 lấy trộm 01 ba lô bên trong có 01 máy tính xác tay hiệu Dell màu đen. Sau đó, T và T1 đưa máy tính xách tay trộm cắp được đến tiệm mua bán máy tính, điện thoại T tại số 546 đường N, P. Hòa Khánh Bắc, Q. Liên Chiểu bán cho anh Nguyễn Ngọc Q với giá 1.000.000 đồng. Số tiền này T giữ để cả hai cùng sử dụng. Còn 01 ba lô trên mặt có logo ghi chữ Tiroll T đưa về cất giấu tại nhà nghỉ N. Sau khi mua lại máy tính xách tay nói trên, anh Q đã bán cho một người chưa xác được lai lịch trên mạng xã hội nên tài sản không thu hồi được.

Theo Kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự số: 97/KL-HĐĐG ngày 18/11/2019 kết luận: Giá trị của 01 máy tính xách tay hiệu Dell màu đen là 3.400.000 đồng. 01 ba lô màu đen có logo in chữ Tiroll màu đen là 330.000 đồng. Tổng cộng 3.730.000 đồng.

- Vào một ngày trong tháng 9/2019 (Không nhớ rõ ngày) T và T1 khai nhận đã trộm cắp 01 túi xách đựng máy tính xách tay bên trong có 01 máy tính xách tay hiệu HP tại một phòng trọ trong kiệt (Không xác định được địa chỉ cụ thể) tại đường P, P. Hòa Khánh Nam, Q. Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng. Sau đó, T và T1 mang đến tiệm mua bán máy tính, điện thoại T tại số 546 đường N, P. Hòa Khánh Bắc, Q. Liên Chiểu bán cho anh Nguyễn Ngọc Q với giá 300.000 đồng. Còn 01 túi xách đựng máy tính xách tay trên mặt có logo ghi chữ Polo Everest T mang về cất giấu tại nhà nghỉ N. Sau khi mua lại máy tính xách tay hiệu HP nói trên, anh Q đã bán cho một người chưa xác được lai lịch trên mạng xã hội nên tài sản không thu hồi được. Qua xác minh tại Công an phường Hòa Khánh Nam thì trong thời gian từ tháng 9/2019 đến nay không có người nào báo tin về việc mất trộm tài sản có đặc điểm như nêu trên tại địa bàn phường quản lý.

- Vào một ngày trong tháng 9/2019 (Không nhớ rõ ngày) T và T1 khai nhận đã trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Oppo F9 của một người phụ nữ đang ngủ trưa không đóng cửa tại một phòng trọ trong kiệt (Không xác định được địa chỉ cụ thể) tại đường Đồng Kè, P. Hòa Khánh Bắc, Q. Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng. Sau đó, mang đến bán cho một cửa hàng mua bán điện thoại (Không nhớ địa chỉ) trên đường Âu Cơ, P. Hòa Khánh Bắc, Q. Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng với giá 800.000 đồng. Qua xác minh tại Công an phường Hòa Khánh Bắc thì trong thời gian từ tháng 9/2019 đến nay không có người nào báo tin về việc mất trộm tài sản có đặc điểm như nêu trên tại địa bàn phường quản lý.

* Vật chứng thu giữ:

- 01 tuốc nơ vít bằng kim loại dài khoảng 15cm, cán bằng nhựa màu đen.

- 01 máy tính xách tay hiệu Dell màu đen và 01 túi đựng máy tính xách tay màu đen có dòng chữ Dell.

- 01 balo màu đen có hai quai đeo, trên mặt có logo ghi chữ Polo Everest.

- 01 balo màu đen, trên mặt có logo ghi chữ Tiroll.

- 01 chiếc xe mô tô hiệu Dream, biển kiểm soát 43K8- xxx9.

Tại bản cáo trạng số 06/CT-VKS ngày 26/12/2019 của VKSND quận Liên Chiểu đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn T và Hồ Đắc T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” như bản cáo trạng số 06/CT-VKS ngày 26/12/2019 của VKSND quận Liên Chiểu. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt các bị cáo:

Nguyễn Văn T, từ 12-15 tháng tù; Hồ Đắc T1, từ 09-12 tháng tù;

Và xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Tại phần tranh luận, các bị cáo Nguyễn Văn T và Hồ Đắc T1 thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, bị cáo đã thấy được lỗi lầm, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình khó khăn, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Xét lời khai nhận tội của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:

Khoảng 11h00 ngày 25/8/2019 tại số nhà K65/53 đường P, phường H, Q. Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng, bị cáo Nguyễn Văn T và Hồ Đắc T1 có hành vi lén lút trộm cắp 01 ba lô bên trong có 01 máy tính xác tay hiệu Dell màu đen của anh Trịnh Ngọc T3. Giá trị tài sản các bị cáo chiếm đoạt là 3.730.000 đồng. Sau đó, khoảng 12h00 ngày 29/9/2019 tại nhà trọ kiệt 81/10 đường P, phường Hòa Khánh Nam, Q. Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng T và T1 tiếp tục có hành vi lén lút trộm cắp 01 túi đựng máy tính xách tay bên trong có 01 máy tính xách tay hiệu Dell màu đen của anh Trần Công T2. Giá trị tài sản các bị cáo chiếm đoạt là 4.200.000 đồng.

Ngoài ra, các bị cáo còn thực hiện 03 lần trộm cắp tài sản khác nhưng 02 lần trong tháng 9/2019, cơ quan điều tra không xác định được người bị hại và lần trộm ngày 24/8/2019 của chị Nguyễn Thị H lấy trộm 01 con heo đất trị giá 350.000 đồng chưa đủ định lượng để tính một lần phạm tội trộm cắp tài sản, nhưng vẫn tính giá trị các bị cáo chiếm đoạt. Như vậy, tổng giá trị tài sản bị cáo Nguyễn Văn T và Hồ Đắc T1 chiếm đoạt là: 8.280.000 đồng (Tám triệu, hai trăm tám mươi ngàn đồng).

Hành vi phạm tội của các bị cáo đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 1999. Như bản cáo trạng số 06/CT-VKS ngày 26/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng đã truy tố các bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy:

Trong vụ án này có hai bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội, nhưng các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công vai trò của từng người mà thực hiện hành vi một cách tự phát, do vậy vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn; Giữa các bị cáo có mối quan hệ bạn bè thân thiết với nhau, và do muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo T đã rủ bị cáo T1 thực hiện hành vi phạm tội, nhằm mục đích kiếm tiền tiêu xài cá nhân;

Hành vi phạm tội trên đây của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội ngay trong khu dân cư và thực hiện ngay giữa ban ngày, thể hiện sự liều lĩnh, xem thường pháp luật, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do vậy, việc xét xử các bị cáo đưa ra mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo là cần thiết, nhằm giáo dục các bị cáo. HĐXX cần tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm ren đe giáo dục các bị cáo như đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.

[4] Xét nhân thân, vai trò của các bị cáo thì thấy:

Bị cáo Nguyễn Văn T là người có nhân thân xấu, đã từng bị xử lý hành chính về hành vi cố ý gây thương tích, trong vụ án này bị cáo là đề xướng rủ bị cáo Hồ Đắc T1 đi trộm cắp tài sản, trong các lần trộm cắp thì bị cáo T là người trực tiếp bẻ khóa và dùng tuýt rơ vít để mở khóa trộm cắp tài sản và người mang tài sản đi tiêu thụ và giữ tiền để cả hai cùng tiêu xài. Do vậy, mức án của bị cáo Nguyễn Văn T sẽ cao hơn so với bị cáo T1.

Đối với bị cáo Hồ Đắc T1, khi nghe bị cáo T rủ đi trộm thì đồng ý ngay và là người chở bị cáo T đi quan sát và khi đến nơi, bị cáo T1 là người cảnh giới để bị cáo T thực hiện hành vi trộm cắp và cùng ăn chia số tiền trộm cắp mà có, do vậy bị cáo T1 phải chịu chung trách nhiệm hình sự cùng với bị cáo Nguyễn Văn T.

[5] Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải; Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Các bị cáo đã tự khai nhận ra những lần phạm tội trước đó; một phần tài sản đã thu hồi trả lại cho người bị hại; Các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, i, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. HĐXX sẽ xem xét khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

Ngoài ra, các bị cáo còn phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội nhiều lần theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.

Trong vụ án này, anh Nguyễn Ngọc Q khai nhận vào tháng 8 và 9/2019 có mua lại của T và T1 03 máy tính xách tay nhưng không biết rõ tài sản này là do phạm tội mà có nên Cơ quan CSĐT không xử lý là có cơ sở.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Người bị hại là anh Trần Công T2 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường về dân sự. Riêng anh Trịnh Ngọc T3 yêu cầu các bị cáo bồi thường giá trị 01 máy tính xác tay tương đương số tiền 3.400.000 đồng. Chị Nguyễn Thị H yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 350.000 đồng. HĐXX xét thấy cần buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường cho người bị hại là có căn cứ.

[7] Về xử lý vật chứng:

Ngày 15/11/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Liên Chiểu đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 96/ CSĐT bằng hình thức: Trả lại 01 máy tính xách tay hiệu Dell màu đen và 01 túi đựng máy tính xách tay màu đen có dòng chữ Dell cho chủ sở hữu là anh Trần Công T2; trả lại 01 balo màu đen, trên mặt có logo ghi chữ Tiroll cho anh Trịnh Ngọc T3.

Đối với xe mô tô hiệu Dream, biển kiểm soát 43K8- xxx9 do anh Đào Quang T trú tại số 16 đường Trần Quý C, TP. Đà Nẵng đứng tên chủ sở hữu trong giấy đăng ký xe. Tuy nhiên, xác minh tại địa chỉ số 16 đường Trần Quý C, TP. Đà Nẵng không có ai tên là Đào Quang T (Đây là Đại sứ quán nước Lào). Do vậy, đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với 01 balo màu đen, trên mặt có logo ghi chữ Polo Everest hiện chưa xác định được bị hại nên đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với 01 tuốc nơ vít bằng kim loại dài 15cm, cán bằng nhựa màu đen, cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Về án phí: Theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án thì mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí HSST.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn T và Hồ Đắc T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm s, i, r khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.

+ Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 12 (mười hai) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/9/2019.

+ Xử phạt: Bị cáo Hồ Đắc T1 09 (chín) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/9/2019.

2. Về phần dân sự:

+ Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 584; 589 Bộ luật Dân sự năm 2015, tuyên buộc:

Các bị cáo Nguyễn Văn T và Hồ Đắc T1 phải liên đới bồi thường cho người bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, cụ thể như sau:

Bồi thường cho anh Trịnh Ngọc T3 số tiền 3.400.000 đồng.

Bồi thường cho chị Nguyễn Thị H số tiền 350.000 đồng.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không chịu hoàn trả, thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về xử lý vật chứng:

+ Áp dụng : Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:

- Tiếp tục tạm giữ 01 balo màu đen, trên mặt có logo ghi chữ Polo Everest và chiếc xe mô tô 43K8- xxx9 mang tên Đào Quang T. Để Cơ quan CSĐT Công an quận Liên Chiểu tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định pháp luật. (Xe mô tô 43K8-xxx9 và 01 balo màu đen đang tạm giữ tại Công an quận Liên Chiểu, theo biên bản tạm giữ đồ vật lập ngày 30/9/2019).

- Tịch thu tiêu hủy 01 tuốcnơ vít bằng kim loại dài 15cm, cán bằng nhựa màu đen. (Vật chứng đang tạm giữ tại Cơ quan Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/01/2020).

3. Án phí HSST: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng và liên đới chịu 187.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Riêng người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ