vanban.org

Bản án 03/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An Tuyên án 12/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giao bị cáo Nguyễn Bá T cho UBND xã NT, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 90, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên trả lại cho bà Trần Thị C (tên thường gọi là bà Trần Thị Ch 01 (Một) chiếc búa đinh, có cán gỗ dài 30 cm, màu nâu, đã qua sử dụng, chất lượng không kiểm tra. Tịch thu tiêu hủy: 10 (Mười) chiếc th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Bá Tấn TCTS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Giao bị cáo Nguyễn Bá T cho UBND xã NT, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NAM ĐÀN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2020/HS-ST
Ngày 12 - 02- 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lài.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thái Huyền.

2. Bà Lê Thị Hương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Trang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Đậu Công Hữu - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 02 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 52/2019/TLST-HS, ngày 20 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên Nguyễn Bá T; sinh ngày 12 tháng 8 năm 2000 tại xã NT, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm X, xã NT, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Bá Th và bà Nguyễn Thị S; vợ, con: Chưa có; tiền sự, tiền án: Không; bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam; hiện tại ngoại; có mặt.

- Bị hại: Chị Trần Thị H, sinh năm 1975; địa chỉ cư trú: Xóm Y, xã NT, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Bà Nguyễn Thị S; sinh năm 1971; địa chỉ cư trú: Xóm X, xã NT, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

2. Bà Trần Thị C (tên thường gọi Trần Thị Ch); sinh năm 1938; địa chỉ cư trú: Xóm X, xã NT, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An; vắngmặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 19 giờ, ngày 26/8/2019, Nguyễn Bá T đi ngang nhà chị Trần Thị H (SN 1975, trú tại xóm Y, xã NT, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An) thấy không có ai ở nhà nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của chị H. T đi đến nhà bà Trần Thị C (là bà ngoại của T), chuẩn bị một chiếc búa cán gỗ, dài khoảng 30 cm, bỏ vào túi quần bên trái rồi đi theo đường liên xóm đến cửa hàng tạp hóa của chị H. Nguyễn Bá T dùng chiếc búa chuẩn bị trước đó đập phá ổ khóa cạnh cửa phía sau cửa hàng bán tạp hóa, đột nhập vào bên trong cửa hàng lấy trộm 01 chiếc túi màu nâu để ở trong thùng mì tôm phía trên đầu giường, bên trong túi có số tiền 1.465.000 đồng cùng nhiều thẻ điện thoại, cụ thể: 10 thẻ điện thoại Vinaphone mệnh giá 50.000 đồng; 9 thẻ Vinaphone mệnh giá 20.000 đồng; 6 thẻ Viettel mệnh giá 50.000 đồng; 19 thẻ Viettel có mệnh giá 20.000 đồng. Sau đó, T đi theo đường cũ để về nhà kiểm tra lại số tiền và cất búa vào nhà bếp. T sử dụng số tiền 1.465.00 đồng vào tiêu xài cá nhân, số thẻ điện thoại T dùng nạp vào tài khoản để chơi “game”.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 552 ngày 04/09/2019 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện Nam Đàn kết luận: 01 chiếc túi xách màu nâu trị giá 40.000 đồng. Tại bản kết luận định giá tài sản số 649 ngày 14/11/2019 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện Nam Đàn kết luận: 10 thẻ điện thoại Vinaphone mệnh giá 50.000 đồng, 09 thẻ Vinaphone mệnh giá 20.000 đồng, 06 thẻ Viettel mệnh giá 50.000 đồng, 19 thẻ Viettel có mệnh giá 20.000 đồng. Tổng giá trị toàn bộ số thẻ điện thoại 1.360.000 đồng. Tổng số tài sản mà Nguyễn Bá T lấy trộm của chị Trần Thị H giá trị 2.865.000 đồng

Bản cáo trạng số 02/CT-VKS-HS, ngày 19/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An truy tố Nguyễn Bá T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn giữ quyền công tố, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Bị cáo Nguyễn Bá T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá T mức án từ 06 đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị S không có yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về xử lý vật chứng: Tuyên trả cho bà Trần Thị C 01 chiếc búa đinh; tuyên tịch thu tiêu hủy 44 thẻ điện thoại không còn giá trị sử dụng. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị hại; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Mong Tòa giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nam Đàn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa bị hại chị Trần Thị H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Trần Thị C, bà Nguyễn Thị S vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Bá T đã khai nhận hành vi của mình phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận:

Vào khoảng 19 giờ ngày 26 tháng 08 năm 2019, Nguyễn Bá T đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu, lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt 01 chiếc túi xách màu nâu, bên trong túi có số tiền 1.465.000 đồng và 10 thẻ điện thoại Vinaphone mệnh giá 50.000 đồng, 09 thẻ Vinaphone mệnh giá 20.000 đồng, 06 thẻ Viettel mệnh giá 50.000 đồng, 19 thẻ Viettel có mệnh giá 20.000 đồng. Tổng số tài sản mà Nguyễn Bá T chiếm đoạt của chị Trần Thị H có giá trị 2.865.000 đồng. Hành vi của Nguyễn Bá T đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Bản Cáo trạng số 02/CT-VKS-HS, ngày 19/12/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

. Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Đây là vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm mất trật tự trị an trên địa bàn, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy cần xử lý nghiêm đối với bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, tại Cơ quan Điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại, bị hại có đơn đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo là người khuyết tật nặng theo Giấy xác nhận khuyết tật ngày 01/01/2014 của UBND xã NT, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An; ông nội bị cáo có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo.

Xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, cụ thể; quá trình sinh sống tại địa phương luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú; có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo cũng không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn tại phiên tòa.

. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người bị khuyết tật vận động ở mức độ nặng, gia đình thuộc hộ cận nghèo nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Trần Thị H đã nhận lại đầy đủ tài sản bị chiếm đoạt; bà Nguyễn Thị S là mẹ đẻ của bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại do hành vi của bị cáo gây ra. Chị H, bà S không có yêu cầu gì thêm đối với bị cáo, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc túi xách chất liệu dù, màu nâu đã qua sử dụng, Cơ quan Điều tra đã trả cho chủ sở hữu là chị Trần Thị H nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01 chiếc búa có cán gỗ màu nâu, chiều dài 30 cm là tài sản của bà Trần Thị C mà bị cáo sử dụng làm công cụ phạm tội, bà C không biết T đã lấy chiếc búa để đi phạm tội, nay bà C yêu cầu được nhận lại chiếc búa nên tuyên trả lại cho bà Trần Thị C. Đối với 10 thẻ điện thoại Vinaphone mệnh giá 50.000 đồng; 9 thẻ Vinaphone mệnh giá 20.000 đồng; 6 thẻ Viettel mệnh giá 50.000 đồng; 19 thẻ Viettel có mệnh giá 20.000 đồng (đã qua sử dụng) là vật chứng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

. Để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, Nguyễn Bá T đã dùng búa phá bung ổ khóa cửa để đột nhập vào cửa hàng tạp hóa thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, chị Trần Thị H đã sửa chốt cửa và ổ khóa, không có yêu cầu gì đối với hành vi làm hư hỏng tài sản nên Cơ quan Điều tra không xử lý là có căn cứ.

.Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá T 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 12/02/2020).

Giao bị cáo Nguyễn Bá T cho UBND xã NT, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong giám sát, giáo dục bị cáo. Bị cáo được hưởng án treo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự, nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 90, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên trả lại cho bà Trần Thị C (tên thường gọi là bà Trần Thị Ch 01 (Một) chiếc búa đinh, có cán gỗ dài 30 cm, màu nâu, đã qua sử dụng, chất lượng không kiểm tra. Tịch thu tiêu hủy: 10 (Mười) chiếc thẻ điện thoại Vinaphone có mệnh giá 50.000 đồng đã qua sử dụng; 09 (Chín) chiếc thẻ Vinaphone có mệnh giá 20.000 đồng đã qua sử dụng; 06 (Sáu) chiếc thẻ Viettel có mệnh giá 50.000 đồng đã qua sử dụng; 19 (Mười chín) chiếc thẻ điện thoại Viettel có mệnh giá 20.000 đồng đã qua sử dụng. Hiện các vật chứng đang được bảo quản tại Kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn và có đặc điểm chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 20 tháng 12 năm 2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nam Đàn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Bá T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ