- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Minh A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2020/HS-ST Ngày: 21/02/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Cẩm Tiên
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Châu Vũ Bình
+ Ông Nguyễn Hoa Kiều
- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Thanh Phong – Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Gạo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Nguyện - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 88/2019/TLST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2020/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 01 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2020/HSST-QĐ ngày 14 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:
LÊ MINH A (A Mặt Quỷ)
Sinh năm 1972; tại: tỉnh Tiền Giang.
- Nơi cư trú: phường N, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Số CMND: 310769284; nghề nghiệp: làm hồ; trình độ văn hoá: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Phạm Tấn B, sinh năm 1948 và bà Lê Thị C, sinh năm 1946; bị cáo có vợ tên Lê Phi A1, sinh năm 1985 (không đăng ký kết hôn), có 01 con tên Lê Minh Phi A2, sinh năm 2008; tiền án: 03. Ngày 28/02/2012, bị Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 09/11/2013. Ngày 16/9/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 05/6/2016. Ngày 22/8/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 08/3/2019. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 22/9/2019 và chuyển tạm giam ngày 25/09/2019. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Tri Thị D, sinh năm: 1968; (xin vắng mặt)
Địa chỉ: ấp M, xã N1, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
- Nguyễn Thanh E, sinh năm: 2000 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: phường N, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Trương Cảnh G – sinh năm: 1992 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: ấp M1, xã N2, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.
- Đoàn Khoa H – sinh năm: 1991 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: ấp M2, xã N3, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 21/9/2019, K (chưa rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) điều khiển xe máy loại xe Wave màu xanh chở bị cáo Lê Minh A từ xã N4, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang về nhà của K tại xã N5, huyện Chợ Gạo. Do cả hai đều đã say rượu nên K điều khiển xe chạy đến địa bàn xã N1, huyện Chợ Gạo. Khi đi qua nhà chị Tri Thị D (sinh năm 1968, ngụ ấp M, xã N1, huyện Chợ Gạo) thì bị cáo phát hiện cổng rào và các cửa trong nhà của chị D đều mở, có đèn sáng nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Bị cáo nói K dừng xe để đi vệ sinh rồi đi vào nhà chị D lấy 02 điện thoại di động hiệu Nokia để ở ngăn thứ 2 của tủ gỗ cạnh nơi chị D nằm ngủ. Sau khi lấy trộm điện thoại cất vào túi quần thì bị chị D phát hiện bắt quả tang. Trong lúc bắt quả tang, Nguyễn Minh L (sinh năm 1999, ngụ ấp M, xã N1, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang) có dùng gậy ba khúc đánh một cái trúng vào cánh tay trái của bị cáo.
Theo bản kết luận định giá tài sản số 91 ngày 23/9/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Chợ Gạo thì 01 điện thoại đi động nhãn hiệu Nokia model 1170, màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia model 301 màu xanh lam trị giá 2.093.000 đồng.
Ngoài ra, bị cáo A còn thực hiện một vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Mỹ Tho, cụ thể như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 18/7/2019, bị cáo đi bộ ngang qua Ban chỉ huy quân sự phường N, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang thì thấy bên trong sân của Ban chỉ huy quân sự có để một xe đạp điện hiệu Sonsu màu xanh, không người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Bị cáo vào lấy xe đạp điện dẫn ra khỏi cổng và lấy chìa khóa trong rổ xe mở khóa xe chạy tẩu thoát. Ngày 19/7/2019, bị cáo đem xe đạp điện lấy trộm được cầm cho Trương Cảnh G (sinh năm 1992, ngụ ấp M1, xã N2, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang) với giá 2.000.000 đồng. Sau đó G bán lại cho Đoàn Khoa H (sinh năm 1991, ngụ 258, ấp M2, xã N3, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang) với giá 2.500.000 đồng.
Theo bản kết luận định giá tài sản số 3043 ngày 24/7/2019 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Mỹ Tho thì xe đạp điện hiệu Sonsu màu xanh đã qua sử dụng trị giá 4.200.000 đồng.
Bản cáo trạng số 01/CT-VKSCG ngày 24/12/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo truy tố bị cáo Lê Minh A về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê Minh A. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
* Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo A từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: không có.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại chị Tri Thị D và anh Nguyễn Thanh E đã nhận lại tài sản bị mất trộm, không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Đoàn Khoa H có đơn không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
Về vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gậy ba khúc bằng kim loại, dài 63cm, gồm 03 đoạn (đoạn nhỏ nhất dài 19,5cm, đường kính tiết diện 1,2cm; đoạn lớn nhất dài 24cm, đường kính tiết diện 2,7cm, được bọc ngoài bằng lớp nhựa màu đen; đoạn còn lại dài 19,5cm, đường kính tiết diện 1,8cm).
* Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chợ Gạo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân nhận thức được rằng hành vi lấy trộm tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của các bị hại, bị cáo có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 02 chiếc điện thoại và 01 chiếc xe đạp điện, tổng trị giá tài sản là 6.293.000 đồng. Vào năm 2017, bị cáo đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản với tình tiết tăng nặng là tái phạm nên lần phạm tội này bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự thì:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm:
...................................................................................................................
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
...................................................................................................................
g) Tái phạm nguy hiểm.
................................................................................................................... ”
Như vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bản thân bị cáo đủ sức lao động để tạo ra của cải vật chất phục vụ nhu cầu cá nhân, giúp ích cho gia đình, xã hội nhưng do bản tính lười lao động, chỉ muốn hưởng thụ nên bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của người khác để thực hiện hành vi trộm tài sản. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Xét về nhân thân bị cáo có 03 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”. Bên cạnh đó vào năm 2003, bị cáo bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, năm 2004, năm 2005 và năm 2008 bị cáo bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi chấp hành xong hình phạt, bị cáo không những không ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, không thay đổi bản thân mà còn tiếp tục vi phạm, cho thấy bị cáo vẫn có ý thức xem thường pháp luật. Do đó xét thấy cần có một mức án thật nghiêm khắc là cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội hai lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: 01 (một) gậy ba khúc bằng kim loại, dài 63cm, gồm 03 đoạn (đoạn nhỏ nhất dài 19,5cm, đường kính tiết diện 1,2cm; đoạn lớn nhất dài 24cm, đường kính tiết diện 2,7cm, được bọc ngoài bằng lớp nhựa màu đen; đoạn còn lại dài 19,5cm, đường kính tiết diện 1,8cm) là hung khí của Nguyễn Minh L dùng đánh bị cáo. Bị cáo có đơn không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự và từ chối giám định thương tích nên không có căn cứ để xử lý đối với L và L không có yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại chị Tri Thị D, anh Nguyễn Thanh E đã nhận lại tài sản bị mất trộm, không yêu cầu gì; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Đoàn Khoa H có đơn không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với đối tượng K: Hiện chưa xác định được nhân thân của K nên không làm việc được. Cơ quan điều tra tiếp tục tiến hành xác minh làm rõ, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với hành vi của Nguyễn Minh L dùng gậy ba khúc đánh A: Do bị cáo A có đơn không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự và từ chối giám định thương tích nên không có căn cứ để xử lý đối với L. Công an huyện Chợ Gạo đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với L.
Đối với Trương Cảnh G và Đoàn Khoa H: Khi mua xe đạp điện hiệu Sonsu, G và H không biết đây là tài sản do bị cáo A phạm tội mà có nên không có căn cứ để xử lý đối với G và H.
Xét lời luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã truy tố và hướng giải quyết về xử lý vật chứng là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Minh A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm g khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lê Minh A 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 22/09/2019.
- Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gậy ba khúc bằng kim loại, dài 63cm, gồm 03 đoạn (đoạn nhỏ nhất dài 19,5cm, đường kính tiết diện 1,2cm; đoạn lớn nhất dài 24cm, đường kính tiết diện 2,7cm, được bọc ngoài bằng lớp nhựa màu đen; đoạn còn lại dài 19,5cm, đường kính tiết diện 1,8cm)
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02 tháng 01 năm 2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Gạo và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo).
+ Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
+ Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo; - Cơ quan Điều tra- Công an huyện Chợ Gạo; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo; - Nhà tạm giữ- Công an huyện Chợ Gạo; - Bị cáo, bị hại; người liên quan; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phan Thị Cẩm Tiên |