- Tranh chấp gì? án hình sự — "TRỘM CẮP TÀI SẢN - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Minh T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2020/HS-ST Ngày 17-01-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà NGUYỄN HOÀNG XUÂN LAM
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông TỐNG VĂN TƯ
Bà HUỲNH KIM PHỤNG
- Thư ký phiên tòa: Ông TRẦN MINH CƯỜNG - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà NGUYỄN THỊ DIỆU HIỀN - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2019/TLST-HS ngày 18 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2020/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:
Huỳnh Minh T, sinh năm: 1992 tại tỉnh Đồng Tháp. Nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hoá: 07/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn K (1941) và bà Nguyễn Thị N (1954); chưa có vợ con; tiền án: không, tiền sự: không; về nhân thân: từ nhỏ sống chung với gia đình tại ấp M, xã M, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp, học đến lớp 7 thì nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình. Ngày 29/6/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự 1999, chấp hành xong ngày 11/01/2012; ngày 23/12/2019 bị bắt theo quyết định truy nã số 647 ngày 08/4/2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cái Bè; bị tạm giữ ngày 23/12/2019; bị tạm giam ngày 26/12/2019. (Có mặt)
Bị hại: Đoàn Văn Trúc L, sinh năm 1986, địa chỉ: ấp H, xã H, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 12/12/2017, Huỳnh Minh T được anh Đoàn Văn Trúc L, sinh năm 1986, thường trú ấp H, xã H, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang nhận làm thuê với công việc là canh giữ và chăm sóc ruộng dưa hấu của anh L ở ấp M, xã H, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Hàng ngày, T sinh hoạt và ngủ lại trong căn chòi giữ dưa. Khoảng 08 giờ ngày 16/12/2017, anh L điều khiển xe mô tô đi mua nước đá, còn T ở lại căn chòi, lúc này T nhìn thấy có một điện thoại di động hiệu Vivo loại V5S, một điện thoại bàn phím cứng của anh L đang để trên giường ngủ trong căn chòi nên có ý định trộm cắp. T liền lấy điện thoại di động hiệu Vivo loại V5S bỏ vào cóp xe mô tô biển số 66M1-016.59 rồi điều khiển xe mô tô trên đi đến huyện T Phước, tỉnh Tiền Giang bỏ lại tại chòi 01 thẻ nhân viên có dán hình với họ, tên Huỳnh Minh T. Trên đường đi, T tháo sim điện thoại ra vứt bỏ rồi bán điện thoại trộm được cho cửa hàng không rõ biển hiệu, địa chỉ với giá 1.000.000đ, T tiêu xài cá nhân hết. Ngày 18/12/2017, anh L trình báo sự việc đến Công an xã H, huyện Cái Bè đồng thời giao nộp thẻ nhân viên của T. Qua trình xác minh, T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Kết luận thẩm định giá trị tài sản số 02/KLGĐ-TTHS ngày 08/01/2018 của Hội đồng định giá tài sản huyện Cái Bè kết luận: 01 điện thoại hiệu Vivo loại V5S, màu trắng trị giá 4.014.000đ.
Về trách nhiệm dân sự:
Ngày 30/10/2018, Huỳnh Minh T đã giao nộp số tiền 4.000.000đ để bồi thường cho anh Đoàn Văn Trúc L. Ngày 07/11/2018, Cơ quan điều tra đã trả số tiền trên cho anh L, anh L không yêu cầu T bồi thường thêm.
Tại bản cáo trạng số 09/CT-VKS ngày 17/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè truy tố bị cáo Huỳnh Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị tuyên bố bị cáo Huỳnh Minh T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo từ 15-18 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Huỳnh Minh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng mà vị đại diện Viện kiểm sát đã công bố.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nhưng lại thiếu nhận thức về an ninh, trật tự xã hội. Xuất phát từ việc lười lao động muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở lấy trộm 01 điện thoại di dộng hiệu Vivo loại V5S của bị hại có giá trị 4.014.000đ căn cứ vào bản kết luận về việc thẩm định giá trị tài sản số 02/KLTĐ-TTHS ngày 08/01/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Huỳnh Minh T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi của bị cáo T là liều lĩnh, lợi dụng sự sơ hở của người khác, lén lút chiếm đoạt trái phép tài sản, hành vi này không những xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của anh L mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương, bị cáo T nhận thức được hành vi của mình là sai trái nhưng vẫn cố ý thực hiện. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo. Đồng thời, căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì bị cáo có mẹ, ông bà ngoại là người có công với cách mạng và bị hại anh L cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xét về nhân thân bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng cũng chú ý vào các điểm sau khi lượng hình cụ thể: Vào ngày 29/6/2011, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp xử phạt một năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, bị cáo đã chấp hành xong ngày 11/01/2012 nhưng vẫn không cố gắng khắc phục trở thành người tốt mà vẫn ngựa quay đường cũ. Thêm vào đó, trong quá trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm tại Tòa án, bị cáo bỏ trốn đến ngày 23/12/2019 thì bị cáo bị bắt theo quyết định truy nã số 647 ngày 08/4/2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cái Bè. Từ các phân tích trên, cần phải ra một hình phạt thích đáng, tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có thời gian suy ngẫm lại bản thân mình. Đồng thời, cải tạo bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội.
Về trách nhiệm dân sự:
Đối với bị hại anh Đoàn Văn Trúc L đã nhận 4.000.000đ tiền bồi thường, không yêu cầu bị cáo T bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xét lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa là có cơ sở chấp nhận về tội danh và điều luật áp dụng. Tuy nhiên, về mức hình phạt đối với bị cáo T là chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
Xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng trình tự và thủ tục theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Minh T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Minh T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 23/12/2019.
2. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, đối với bị hại thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tænh Tieàn Giang; - VKSND huyeän Caùi Beø; - Công an huyện Cái Bè; - Chi cuïc THADS huyeän Caùi Beø; - Những người tham gia tố tụng; - Löu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoàng Xuân Lam |