vanban.org

Bản án 03/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Võ Thị L và anh Phan Văn T là vợ chồng.

Về con chung: Chị Võ Thị L được nuôi dạy 03 (ba) con chung tên: Phan Văn T1, sinh ngày 26/12/2006; Phan Văn Ph, sinh ngày 26/12/2006 và Phan Thị S, sinh ngày 08/6/2009 cho đến khi con thành niên và có khả năng lao động. Anh Phan Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị Võ Thị L cùng các thành … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn: Chị Võ Thị L, sinh năm 1976 và Bị đơn: Anh Phan Văn T, sinh năm 1957"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Võ Thị L và anh Phan Văn T là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TÂN CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 03/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 03/12/2020
“V/v tranh chấp hôn nhân và gia
đình, ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bạch Tuyết

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông SoRoLes;

2. Ông Nguyễn Văn Nô.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Hữu Lợi, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Bảo Thịnh, kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 339/2020/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2020 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 434/2020/QĐXXST-HN ngày 16 tháng 11 năm 2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Võ Thị L, sinh năm 1976; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 6, đường T, khóm D, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang; Chỗ ở hiện nay: Ấp A, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp (khu dân cư ấp G);

Bị đơn: Anh Phan Văn T, sinh năm 1957; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 6, đường T, khóm D, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang.

Chị Võ Thị L và anh Phan Văn T đều có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Võ Thị L trình bày: Vào năm 2002, chị L và anh Phan Văn T tự tìm hiểu, yêu thương nhau, sống chung như vợ chồng, không tổ chức lễ cưới, không đăng ký kết hôn. Thời gian đầu, chị L và anh T chung sống hạnh phúc, đến tháng 11 năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống về tình cảm, tính tình không hòa hợp, thường xuyên cãi vã, chị L và anh T nhiều lần hòa giải, hàn gắn nhưng không thành. Chị L và anh T sống xa nhau từ cuối tháng 6/2020 cho đến nay. Mâu thuẫn giữa chị L và anh T ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị L khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Phan Văn T.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị L và anh T có 03 (ba) con chung tên: Phan Văn T1, sinh ngày 26/12/2006; Phan Văn Ph, sinh ngày 26/12/2006 và Phan Thị S, sinh ngày 08/6/2009.

Chị L yêu cầu được nuôi dạy 03 (ba) con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo biên bản ghi lời khai, trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Phan Văn T trình bày: Thống nhất về thời gian và điều kiện đi đến chung sống như chị L trình bày. Anh T và chị L chung sống hạnh phúc, đến tháng 11 năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống về tình cảm, tính tình không hòa hợp, thường xuyên cãi vã, anh T và chị L nhiều lần hòa giải, hàn gắn nhưng không thành. Anh T và chị L sống xa nhau từ cuối tháng 6 năm 2020 cho đến nay. Mâu thuẫn giữa anh T và chị L ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh T đồng ý ly hôn với chị Võ Thị L.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, anh T và chị L có 03 (ba) con chung tên: Phan Văn T1, sinh ngày 26/12/2006; Phan Văn Ph, sinh ngày 26/12/2006 và Phan Thị S, sinh ngày 08/6/2009.

Anh T đồng ý giao 03 (ba) con chung cho chị L nuôi dạy, không cấp dưỡng nuôi con chung.

Tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Tòa án đã tiến hành hòa giải về con chung; Không hòa giải về tình cảm do chị L và anh T không đăng ký kết hôn;

- Tại phiên tòa, chị L và anh T vẫn giữ nguyên yêu cầu đã trình bày quá trình tố tụng và có mâu thuẫn về kinh tế nên bất đồng quan điểm sống, không hạnh phúc.

Hội đồng xét xử, công bố biên bản ghi nhận ý kiến ngày 13/11/2020 của cháu Phan Văn T1, cháu Phan Văn Ph và cháu Phan Thị S; Các cháu có nguyện vọng được sống chung với chị L (mẹ) vì chị L đã chăm sóc và nuôi dạy các cháu, hiện tại các cháu có cuộc sống đầy đủ và được đi học.

Hội đồng xét xử công bố kết quả xác minh ngày 28/10/2020 của Ủy ban nhân dân phường Long Thạnh, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang về việc chị Võ Thị L và anh Phan Văn T không đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Long Thạnh, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

- Phát biểu của Kiểm sát viên:

+ Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng quy định tại các Điều 195, Điều 196 và Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về xét sử sơ thẩm vụ án.

+ Việc tuân theo pháp luật của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, Điều 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ hồ sơ vụ án, tài liệu chứng cứ, kết quả tranh luận tại phiên tòa, chị L và anh T chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2002, không đăng ký kết hôn. Cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Quá trình chung sống, chị L và anh T không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.

Về con chung, chị L và anh T có 03 (ba) con chung tên: Phan Văn T1, sinh ngày 26/12/2006; Phan Văn Ph, sinh ngày 26/12/2006 và Phan Thị S, sinh ngày 08/6/2009. Anh T đồng ý giao 03 (ba) con chung cho chị L nuôi dạy, không cấp dưỡng nuôi con chung.

Tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản L và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Võ Thị L và anh Phan Văn T là vợ chồng.

Về con chung: Chị Võ Thị L được tiếp tục nuôi dạy 03 (ba) con chung tên: Phan Văn T1, sinh ngày 26/12/2006; Phan Văn Ph, sinh ngày 26/12/2006 và Phan Thị S, sinh ngày 08/6/2009. Anh Phan Văn T không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Về án phí: Chị L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật; Anh T không phải chịu án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

*Về tố tụng:

Về thẩm quyền: Chị Võ Thị L khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Phan Văn T. Anh T có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 6, đường T, khóm D, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

* Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân:

Vào năm 2002, chị Võ Thị L và anh Phan Văn T tự tìm hiểu, yêu thương nhau, sống chung như vợ chồng, không tổ chức lễ cưới, không đăng ký kết hôn. Thời gian đầu, chị L và anh T chung sống hạnh phúc, đến tháng 11 năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống về tình cảm, tính tình không hòa hợp, thường xuyên cãi vã, chị L và anh T nhiều lần hòa giải, hàn gắn nhưng không thành. Chị L và anh T sống xa nhau từ cuối tháng 6/2020 cho đến nay. Tình cảm giữa chị L và anh T không còn nên chị L yêu cầu ly hôn với anh T, anh T đồng ý ly hôn với chị L.

Theo kết quả xác minh ngày 28/10/2020 của Ủy ban nhân dân phường Long Thạnh, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang về việc chị Võ Thị L và anh Phan Văn T không đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Long Thạnh, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

Tại khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng”.

Tại khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này”.

Chị L và anh T chung sống với nhau có đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn. Xét, không công nhận chị Võ Thị L và anh Phan Văn T là vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, biên bản ghi lời khai của bị đơn, biên bản hòa giải về con chung, chị L và anh T đồng thống nhất khai có 03 (ba) con chung tên: Phan Văn T1, sinh ngày 26/12/2006; Phan Văn Ph, sinh ngày 26/12/2006 và Phan Thị S, sinh ngày 08/6/2009.

Chị L yêu cầu được nuôi dạy 03 (ba) con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Anh T đồng ý giao 03 (ba) con chung cho chị L được tiếp tục nuôi dạy và không cấp dưỡng nuôi con chung. Các biên bản ghi nhận ý kiến ngày 13/11/2020 Tài, Phát và Sang đều có nguyện vọng được sống chung với chị L vì có cuộc sống đầy đủ và được đi học.

Anh T đồng ý giao 03 (ba) con chung cho chị L nuôi dạy là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xét chấp nhận.

Chị Võ Thị L được nuôi dạy 03 (ba) con chung tên: Phan Văn T1, sinh ngày 26/12/2006; Phan Văn Ph, sinh ngày 26/12/2006 và Phan Thị S, sinh ngày 08/6/2009 cho đến khi con thành niên và có khả năng lao động. Anh Phan Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị L cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Phan Văn T trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi các con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

(Theo quy định tại Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014).

Về tài sản chung và nợ chung: Chị L và anh T đồng thống nhất khai: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà chị L đã nộp. Anh T không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 147, khoản 2 Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Võ Thị L và anh Phan Văn T là vợ chồng.

Về con chung: Chị Võ Thị L được nuôi dạy 03 (ba) con chung tên: Phan Văn T1, sinh ngày 26/12/2006; Phan Văn Ph, sinh ngày 26/12/2006 và Phan Thị S, sinh ngày 08/6/2009 cho đến khi con thành niên và có khả năng lao động. Anh Phan Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Võ Thị L cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Phan Văn T trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi các con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Chị Võ Thị L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0005422 ngày 03 tháng 10 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu; Chị L đã nộp đủ án phí.

Anh Phan Văn T không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Thời hạn kháng cáo của chị Võ Thị L và anh Phan Văn T là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ