vanban.org

Bản án 03/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị H xin ly hôn anh T vì mâu thuẫn gia đình"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN! CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
PHÚC!THỌ,!HÀ!!NỘI!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 25/02/2020
V/v TrAh chấp ly hôn và nuôi
con chung.

NHÂN!DAH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!PHÚC!THỌ,!THÀNH!PHỐ!HÀ!NỘI!

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm!Thị!Tú.! Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ!Thị!Hòa.! Bà Nguyễn!Thị!Chiểu.!

- Th ký phiên tòa: Bà Nguyễn!Thị!A!- Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Nguyễn!Công!Hòa!- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 304/2019/TLST- HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2019 về việc TrAh chấp ly hôn và nuôi con chung.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2020/QĐXX-ST ngày 07 tháng 02 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Khuất!Thị!Th, sinh năm 1995. Địa chỉ: Cụm 2, xã V, huyện P, Thành phố H; có mặt.

2. Bị đơn: Ah Nguyễn!Văn!H, sinh năm 1992. Địa chỉ: Cụm 2, xã V, huyện P, Thành phố H; có mặt.

!

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

!

1.!Theo!đơn!khởi!kiện,!bản!tự!khai!và!những!lời!khai!tiếp!theo!cũng!như!tại! phiên!tòa!nguyên!đơn!chị!Khuất!Thị!Th!trình!bày!như!sau:!Chị và Ah Nguyễn Văn H kết hôn với nhau vào ngày 10 tháng 12 năm 2018, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Uỷ bA nhân dân xã Võng Xuyên, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội. Sau khi cưới hai vợ chồng chung sống tại Hà Nội một thời giA sau đó về sống chung với bố mẹ Ah H. Thời giA đầu vợ chồng hạnh phúc, đến tháng 6/2019 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quA điểm, không hợp tính nhau, Ah H và gia đình không quA tâm chăm sóc khi chị sinh con, Ah H còn xúc phạm chửi chị và cả mẹ đẻ của chị. Vợ chồng Thờng xuyên cãi nói nhau kH cuộc sống căng thẳng, mệt mỏi, nên tháng 7/2019 chị bỏ về nhà mẹ đẻ ở cụm 2, xã Võng Xuyên ở vợ chồng cũng sống ly thân cho đến nay, Ah H có đến thăm con và hỏi đón chị về nhưng chị không về. Nay chị xét thấy đã hết tình cảm vợ chồng với Ah H, chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với Ah H.!

Về con chung: Chị và Ah H có một con chung là Nguyễn ThAh A, sinh ngày 04 tháng 6 năm 2019, hiện cháu A đAg sống cùng với chị. Nếu được ly hôn, chị có nguyện vọng được nuôi cháu A và không yêu cầu Ah H cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung, công sức, về nợ: Không có.

2.!Bị!đơn!Ah!Nguyễn!Văn!H!trình!bày:!!

Ah và chị Khuất Thị Th kết hôn vào ngày 10 tháng 12 năm 2018 trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống vui vẻ hạnh phúc. Đến tháng 6/2019 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn cãi nói nhau, không cùng quA điểm, nguyên nhân mâu thuẫn là do chị Th nghe theo lời mẹ đẻ hay có những lời nói hành động không lễ phép với Ah và gia đình Ah, nên vợ chồng hay xảy ra mâu thuẫn, dẫn đến việc vợ chồng sống ly thân từ tháng 8/2019. Nay chị Th làm đơn khởi kiện xin ly hôn với Ah, xét thấy Ah vẫn còn tình cảm vợ chồng với chị Th, nên đề nghị Toà án giải quyết để cho Ah và chị Th về đoàn tụ gia đình.

Về con chung: Ah và chị Th có một con chung là Nguyễn ThAh A, sinh ngày 04 tháng 6 năm 2019, hiện cháu A đAg sống cùng với chị Th. Nếu bắt buộc phải ly hôn, Ah có nguyện vọng được nuôi cháu A và không yêu cầu chị Th cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung, công sức, về nợ: Không có.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ đã tiến hành hoà giải nhiều lần để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, nhưng các đương sự cũng không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa nguyên đơn chị Khuất Thị Th giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn, không thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu. Bị đơn Ah Nguyễn Văn H không đồng ý với yêu cầu xin ly hôn của chị Th mà yêu cầu về đoàn tụ gia đình.

3. §¹i diÖn ViÖn Kiểm!sát!nhân!dân!huyện!Phóc Thä!phát!biểu!ý!kiến!về! việc! tuân! theo! pháp! luật! tố! tụng! trong! quá! trình! giải! quyết! vụ! án! của! Thẩm! phán,!Hội!đồng!xét!xử,!việc!chấp!hành!pháp!luật!của!người!tham!gia!tố!tụng!dân! sự: Việc Tòa án nhân dân huyện Phóc Thä thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, đúng pháp luật. Việc xác định quA hệ pháp luật và tư cách người tham gia tố tụng là đúng pháp luật. Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, thủ tục hòa giải đã được tiến hành đúng pháp luật; Thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo, việc chuyển hồ sơ, cấp tống đạt văn bản tố tụng đúng pháp luật.

Về nội dung của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử bác đơn yêu cầu xin ly hôn của chị Th đối với Ah H.

VÒ ¸n phÝ: Chị Khuất Thị Th phải chịu 300.000 đồng ¸n phÝ dân sự s¬ thẩm.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

!

Sau khi nhiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả trAh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ đã thụ lý vụ án theo đơn khởi kiện của chị Khuất Thị Th đối với bị đơn là Ah Nguyễn Văn H; địa chỉ nơi cư trú: Cụm 2, xã Võng Xuyên, huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội; việc Toà án nhân dân huyện Phúc Thọ thụ lý và giải quyết vụ án là có căn cứ và đúng thẩm quyền.

[2]. Về quA hệ hôn nhân: Chị Khuất Thị Th và Ah Nguyễn Văn H kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy bA nhân dân xã Võng Xuyên, huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội vào ngày 10 tháng 12 năm 2018, được xác định là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống có xảy ra những mâu thuẫn trong cuộc sống hàng ngày, dẫn đến không thể hòa giải được, tại phiên tòa chị Th cương quyết xin ly hôn, thể hiện mâu thuẫn vợ chồng Ah chị đã đến mức trầm trọng, không thể tiếp tục cuộc sống vợ chồng.

Qua xác minh tại chính quyền địa phương, địa phương không nhận được bất kỳ thông tin hay đơn xin hoà giải nào liên quA đến mâu thuẫn vợ chồng hai Ah chị là vì hai Ah chị không ai yêu cầu hòa giải. Hội đồng xét xử xét thấy mẫu thuẫn hai Ah chị đã thật sự trầm trọng, nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Th, xử cho chị Th được ly hôn với Ah H.

Về việc chị Khuất Thị Th yêu cầu được nuôi con chung là cháu Nguyễn ThAh A, sinh ngày 04 tháng 6 năm 2019 và không yêu cầu Ah H cấp dưỡng nuôi con chung, xét chị Th có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu A, hơn nữa cháu A hiện nay nới hơn 8 tháng tuổi nên chấp nhận yêu cầu của chị Th, giao cho chị Th được nuôi cháu A là phù hợp với qui định tại khoản 3 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3]. Về án phí: Chị Khuất Thị Th phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:!

- Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, 57, 58, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy bA Thờng vụ Quốc hội:

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Khuất Thị Th.

Chị Khuất Thị Th được ly hôn với Ah Nguyễn Văn H.

2. Chấp nhận yêu cầu của chị Khuất Thị Th về việc nuôi con chung. Giao cháu Nguyễn ThAh A, sinh ngày 04 tháng 6 năm 2019 cho chị Th trực tiếp nuôi cho đến khi cháu A đủ 18 tuổi hoặc khi có quyết định khác của cơ quA Nhà nước có thẩm quyền. Chị Khuất Thị Th không yêu cầu Ah Nguyễn Văn H cấp dưỡng nuôi con chung, nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với Ah H cho đến khi có yêu cầu mới.

Ah Nguyễn Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Chị Khuất Thị Th phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án tại biên lai thu số 0005942 ngày 17/12/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội.

- Căn cứ Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./. CÁC!HỘI!THẨM!NHÂN!DÂN!!!!!!!!!!!!!!THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA!

!

!

!

!

!

!

!

!

!

!

!

!

!

!

!

!

!

!

!

!

!

!

!

!

!

!

!

!

!

!

!

Cỡ chữ