vanban.org

Bản án 03/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị C đƣợc ly hôn anh Nguyễn Văn T.

Về con chung: Xử giao con chung là Nguyễn Nhật A, sinh ngày 17/4/2012 cho chị Nguyễn Thị C tiếp tục nuôi dƣỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị C tự nguyện không yêu cầu anh T phải cấp dƣỡng nuôi con chung với chị. Anh Nguyễn Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai đƣợc cản trở anh … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị C - Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị C đƣợc ly hôn anh Nguyễn Văn T.
  • Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CHÍ LINH
TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 26 -3-2020
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Kim Giang;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Thị Thu Thảo

2. Ông Phạm Phúc Ân

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Giao - Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 3 năm 2020 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm, công khai vụ án thụ lý số: 05/2020/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2020 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 03/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/3/2020 giữa các đƣơng sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1978;

Địa chỉ: Thôn A, xã L, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1974;

Địa chỉ: Thôn A, xã L, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng.

Chị C có mặt; anh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 31/12/2019, bản tự khai và ý kiến tại các buổi làm việc với Tòa án, chị Nguyễn Thị C trình bày:

Chị và anh T đăng ký kết hôn ngày 27/07/1998 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C (nay là thành phố C) trên cơ sở tự nguyện và đƣợc hai bên gia đình tổ chức lễ cƣới theo phong tục tập quán địa phƣơng. Sau ngày cƣới, vợ chồng chung sống tại nhà bố mẹ anh T ở thôn A, xã L. Khoảng năm 2007 - 2008, vợ chồng mƣợn đất ra ở riêng. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Khoảng năm 2011, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh T mải chơi, không chịu làm ăn, nợ nần nhiều, dẫn đến kinh tế gia đình sa sút. Chị và gia đình khuyên bảo nhiều nhƣng anh T không chịu thay đổi, dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng thƣờng xuyên xảy ra xô xát và có lời lẽ xúc phạm nhau. Chị nhiều lần muốn ly hôn nhƣng do nghĩ thƣơng các con nên chị vẫn tiếp tục chung sống với anh T. Đến khoảng năm 2014 - 2015, vợ chồng chính thức ly thân. Anh T bỏ ra ngoài làm ăn, không quan tâm, liên lạc với chị. Cách đây vài tháng, anh T chuyển về ở tại nhà bố mẹ đẻ nhƣng cũng không liên lạc với chị. Vợ chồng gặp mặt nhƣng cũng không nói chuyện đƣợc với nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn và không thể về đoàn tụ đƣợc. Do vậy, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị đƣợc ly hôn anh T. Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Nguyễn Thị T, sinh ngày 25/6/1999, Nguyễn Thị K, sinh ngày 17/6/2001 và Nguyễn Nhật A, sinh ngày 17/4/2012. Cháu T và cháu K đều đã trƣởng thành, khỏe mạnh bình thƣờng nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi con chung đối với hai cháu. Đối với con chung Nguyễn Nhật A, hiện đang do chị trực tiếp nuôi dƣỡng. Nếu ly hôn, chị đề nghị đƣợc tiếp tục nuôi con và không yêu cầu anh T phải cấp dƣỡng nuôi con chung với chị. Lý do chị xin đƣợc nuôi con chung Nguyễn Nhật A vì từ bé đến nay chị vẫn chăm sóc tốt cho cháu. Cháu vẫn ngoan ngoãn, khỏe mạnh. Chị hiện tại làm nông nghiệp, chăn nuôi và bán hàng thêm nên thu nhập hàng tháng khoảng 6.000.000đ – 7.000.000đ, chị đủ khả năng để chăm sóc tốt cho cháu Nhật A. Thời gian chị nuôi cháu Nhật A, anh T không có quan tâm, trách nhiệm gì với cháu; Hiện tại anh T vẫn chƣa có công việc và thu nhập ổn định, do vậy, theo chị anh T không đủ khả năng nuôi dƣỡng cháu Nhật A. Về quan hệ tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 19/02/2020, bị đơn - anh Nguyễn Văn T trình bày thống nhất nội dung về thời gian, điều kiện kết hôn nhƣ chị C trình bày. Anh T cũng thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn liên quan đến vấn đề kinh tế gia đình do anh chơi bời, nợ nần trƣớc đây. Sau đó, chị C tỏ thái độ không tôn trọng anh, dẫn đến vợ chồng không nói chuyện đƣợc với nhau. Khoảng năm 2016 đến nay, anh đi làm ăn xa, có liên lạc về nhà nhƣng chị C tỏ thái độ cáu gắt, khó chịu, do vậy, anh ít liên lạc với chị C. Vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Gia đình đã động viên, hòa giải nhiều nhƣng không đƣợc. Từ tháng 11/2019, anh về nhà bố mẹ đẻ ở thôn A, xã L. Anh có nói chuyện với chị C để vợ chồng về đoàn tụ cho các con đỡ khổ nhƣng chị C không đồng ý. Nay chị C xin ly hôn, quan điểm của anh là không đồng ý vì không muốn việc ly hôn của vợ chồng ảnh hƣởng đến các con. Về con chung: Anh T xác định hiện tại vợ chồng có 03 con chung nhƣ chị C trình bày. Cháu T và cháu K đều đã trƣởng thành, khỏe mạnh bình thƣờng nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi con đối với các cháu. Đối với cháu Nhật A hiện đang do chị C nuôi dƣỡng, cháu muốn ở với ai thì tùy cháu quyết định. Hiện tại anh đang lao động tự do, nay đây, mai đó, vài tháng mới về nhà một lần. Nếu cháu muốn ở với anh thì anh cũng sẵn sàng làm ở gần nhà để nuôi cháu. Về quan hệ tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại bản tự khai ngày 25/2/2020, cháu Nguyễn Nhật A trình bày có nguyện vọng xin đƣợc ở với mẹ.

- Tại các biên bản xác minh với bà Vũ Thị T – Cán bộ Hội phụ nữ phụ trách thôn A và ông Nguyễn Văn H – Trƣởng thôn A đều xác định: Vợ chồng chị C, anh T có mâu thuẫn, bất đồng do anh T vay mƣợn, nợ nần nhiều. Khoảng năm 2014 - 2015, anh T bỏ ra ngoài làm ăn không quan tâm, liên lạc với chị C. Cuối năm 2019, anh T về nhà bố mẹ đẻ, không ở cùng với chị C và các con. Nay chị C xin ly hôn, quan điểm của địa phƣơng là đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo định pháp luật. Về con chung: Địa phƣơng xác định cháu Nhật A đƣợc chị C chăm sóc, nuôi dƣỡng tốt từ nhỏ đến nay. Đề nghị Tòa án tiếp tục giao cháu Nhật A cho chị C nuôi dƣỡng.

Tại phiên toà:

Chị C trình bày giữ nguyên quan điểm nhƣ nội dung nêu trên; Anh T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử kể từ thời điểm thụ lý vụ án đến trƣớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng. Bị đơn giai đoạn đầu không chấp hành việc triệu tập của Tòa án nhƣng sau đó đã cơ bản chấp hành đúng các quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng. Về đƣờng lối giải quyết đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng: Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị C đƣợc ly hôn anh Nguyễn Văn T. Về con chung: Xử giao con chung Nguyễn Nhật A, sinh ngày 17/4/2012 cho chị Nguyễn Thị C tiếp tục trực tiếp nuôi dƣỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị C tự nguyện không yêu cầu anh T phải cấp dƣỡng nuôi con chung với chị. Anh Nguyễn Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai đƣợc cản trở anh T thực hiện quyền này. Đối với con chung Nguyễn Thị T, sinh ngày 25/6/1999 và Nguyễn Thị K, sinh ngày 17/6/2001 đã trƣởng thành, khỏe mạnh bình thƣờng, chị C, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi con nên không đặt ra việc xem xét, giải quyết. Về quan hệ tài sản chung: Không đặt ra việc xem xét, giải quyết. Về án phí: Chị C phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến của đƣơng sự và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn - anh Nguyễn Văn T đã đƣợc Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đƣa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập nhƣng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt anh T.

Chị Nguyễn Thị C và anh Nguyễn Văn T kết hôn với nhau ngày 27/7/1998 trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo các điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L. Do vậy, hôn nhân của chị C, anh T là hợp pháp. Sau khi kết hôn một thời gian, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong làm ăn kinh tế, không tin tƣởng, tôn trọng nhau. Từ năm 2016 đến nay vợ chồng đã sống ly thân và không quan tâm, liên lạc với nhau. Mặc dù, anh T có quan điểm không muốn ly hôn, nhƣng không có biện pháp và hành động cụ thể để vợ chồng về đoàn tụ; Tòa án triệu tập anh T đến tham gia phiên hòa giải và phiên tòa nhƣng anh T không đến, thể hiện sự thờ ơ, bỏ mặc tình trạng mâu thuẫn vợ chồng. Hội đồng xét xử thấy r ng việc chị C, anh T không sống chung; không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc gia đình đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đƣợc. Do vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của chị C xin ly hôn anh T.

Về con chung: Có 03 con chung.

Con chung Nguyễn Thị T, sinh ngày 25/6/1999 và Nguyễn Thị K, sinh ngày 17/6/2001 đều đã trƣởng thành, khỏe mạnh bình thƣờng và tự lo đƣợc cuộc sống bản thân. Chị C, anh T đều không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi con chung đối với hai cháu T và K nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Đối với con chung Nguyễn Nhật A, sinh ngày 17/4/2012, hiện tại đang do chị C trực tiếp nuôi dƣỡng. Chị C có quan điểm muốn đƣợc tiếp tục nuôi con, cháu Nhật A cũng có nguyện vọng muốn đƣợc ở với mẹ. Anh T có quan điểm tôn trọng ý kiến của cháu Nhật A. Căn cứ vào nguyện vọng của cháu Nhật A, chị C, anh T; điều kiện, hoàn cảnh, cũng nhƣ ý thức trách nhiệm của bố mẹ đối với con cái. Hội đồng xét xử thấy r ng, chị C hiện tại vẫn chăm sóc tốt cho cháu Nhật A và có đủ điều kiện để chăm sóc tốt cho cháu. Do vậy, cần căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị C, giao con chung Nguyễn Nhật A cho chị C tiếp tục nuôi dƣỡng mới đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu Nhật A. Chị C không yêu cầu anh T phải cấp dƣỡng nuôi con chung với chị, đây là ý kiến tự nguyện của chị C nên đƣợc chấp nhận. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai đƣợc cản trở.

Về quan hệ tài sản: Chị C, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra việc xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị C là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị C đƣợc ly hôn anh Nguyễn Văn T.

2. Về con chung: Xử giao con chung là Nguyễn Nhật A, sinh ngày 17/4/2012 cho chị Nguyễn Thị C tiếp tục nuôi dƣỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị C tự nguyện không yêu cầu anh T phải cấp dƣỡng nuôi con chung với chị. Anh Nguyễn Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai đƣợc cản trở anh T thực hiện quyền này.

Đối với con chung Nguyễn Thị T, sinh ngày 25/6/1999 và Nguyễn Thị K, sinh ngày 17/6/2001 đã trƣởng thành, khỏe mạnh bình thƣờng, chị C, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi con nên không đặt ra việc giải quyết.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị C phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, đƣợc đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ mà chị C đã nộp theo biên lai thu số: AA/2017/0006316 ngày 09/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng. Chị C đã nộp đủ án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc ngày bản án đƣợc niêm yết./.

Cỡ chữ