- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "anh Trịnh Viết Th ly hôn chị Phan Thị Th"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 28, Điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 51, 56, 57, 58, 59, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Các Điều 6, 19, 24, 26 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị …
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN ND HUYỆN VĨNH LỘC TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2020/HNGĐ - ST Ngày 16 /01/2020 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỘC, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hương Giang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Dung
Ông Trịnh Văn Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Lệ Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Nguyệt – Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 01 năm 2020 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 121/2019/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2019 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con", theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2019/QĐXXST - HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Trịnh Viết Th - Sinh năm: 1992.
Trú quán: Thôn 3, làng Đ, xã Th, huyện L, tỉnh T.
2. Bị đơn: Chị Phan Thị Th – Sinh năm 1994
Trú quán: Thôn 3, làng Đ, xã Th, huyện L, tỉnh T.
Các đương sự đều có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề ngày 22 tháng 10 năm 2019 và tại bản tự khai ngày 05/11/2019 cũng như quá trình làm việc tại Tòa án nguyên đơn anh Trịnh Viết Th trình bày:
- Về hôn nhân: Anh Trịnh Viết Th và chị Phan Thị Th kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Th, huyện L, tỉnh T vào ngày 07/7/2012. Vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm trong cuộc sống cũng như trong công việc làm ăn kinh tế nên thường xuyên cãi vã lẫn nhau. Vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 6/2019 cho đến nay. Nay anh Trịnh Viết Th xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, hạnh phúc gia đình không có, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh Th yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Phan Thị Th.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Trịnh Gia Nh - sinh ngày 23/01/2013 (giới tính: Nữ), cháu phát triển bình thường về thể lực và trí lực, không ốm đau bệnh tật gì. Hiện nay cháu Trịnh Gia Nh đang ở với ông bà ngoại (tức là bố mẹ đẻ của chị Th) ở xã X, huyện Ng, tỉnh H từ cuối tháng 8/2019 đến nay. Khi ly hôn anh Th yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trịnh Gia Nh và không yêu cầu chị Phan Thị Th phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Th vì anh có đủ điều kiện để nuôi dưỡng và chăm sóc con tốt.
- Về tài sản chung và công nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này
Tại các bản tự khai ngày 05/11/2019, ngày 14/11/2019 và các lời trình bày tại Tòa án bị đơn là chị Phan Thị Th trình bày:
- Về hôn nhân: Chị Phan Thị Th và anh Trịnh Viết Th kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Th, huyện L, tỉnh T vào ngày 07/7/2012. Vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không phù hợp nên vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Từ tháng 6/2019 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng nên hai người đã sống ly thân nhau từ đó và từ cuối tháng 8/2019 chị Th đã thuê nhà để ở riêng. Nay anh Trịnh Viết Th làm đơn khởi kiện xin ly hôn, chị Th xác định tình cảm vợ chồng không còn, hạnh phúc gia đình không có, hai người không còn quan tâm đến nhau nữa nên chị cũng đồng ý ly hôn và đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng chị được ly hôn.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Trịnh Gia Nh - sinh ngày 23/01/2013 (giới tính: Nữ), cháu phát triển bình thường về thể lực và trí lực, không ốm đau bệnh tật gì. Từ tháng 6/2019 vợ chồng chị phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, đến tháng 8/2019 vì không thể chịu đựng được nữa nên chị đã thuê nhà ở riêng, bố mẹ chồng chị và cả anh Trịnh Viết Th đều bắt buộc chị khi ra khỏi nhà phải mang con theo cùng nên chị đã mang con về nhà bố mẹ đẻ ở xã X, huyện Ng, tỉnh H để gửi và nhập học cho con tại trường tiểu học X, huyện Ng, tỉnh H từ cuối tháng 8/2019 đến nay, trong khi chị vẫn làm việc tại huyện L, tỉnh T, những hôm được nghỉ làm chị Th đều về thăm nom, chăm sóc con. Khi ly hôn chị Th yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trịnh Gia Nh và không yêu cầu anh Trịnh Viết Th phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị vì chị có đủ điều kiện để nuôi dưỡng và chăm sóc con tốt.
- Về tài sản chung và công nợ chung của vợ chồng: Vợ chồng tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
Tại phiên tòa anh Trịnh Viết Th vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Chị Phan Thị Th cũng xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Th không còn nên chị Th đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng chị được ly hôn.
Về con chung chị Th đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trịnh Gia Nh, chị không yêu cầu anh Th phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa như sau:
- Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến phiên tòa hôm nay, thấy rằng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký Tòa án đã thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn của mình và tuân theo đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự đã tuân theo đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Qua nghiên cứu hồ sơ cũng như tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Trịnh Viết Th, xử cho anh Trịnh Viết Th được ly hôn chị Phan Thị Th.
Giao con chung là cháu Trịnh Gia Nh, sinh ngày 23/01/2013 cho chị Phan Thị Th trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Trịnh Viết Th không phải có trách nhiệm đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Phan Thị Th vì chị Th không có yêu cầu.
-Về án phí: Anh Trịnh Viết Th phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa vµ trong qu¸ tr×nh gi¶i quyÕt vô ¸n Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Về quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách đương sự và thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Trịnh Viết Th có đơn khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con đối với chị Phan Thị Th có hộ khẩu thường trú tại xã Th, huyện L, tỉnh Thanh Hóa. Căn cứ khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định đây là vụ án: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Về hôn nhân: Anh Trịnh Viết Th và chị Phan Thị Th kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Th, huyện L, tỉnh T vào ngày 07/7/2012. Xác định quan hệ hôn nhân giữa anh Trịnh Viết Th và chị Phan Thị Th là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống do tính tình không hợp nên vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2019 đến nay và mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng nhất là từ tháng 8 năm 2019 khi chị Phan Thị Th bỏ ra thuê nhà để ở riêng, hai bên không còn quan tâm đến nhau nữa. Anh Trịnh Viết Th xét thấy đến nay tình cảm vợ chồng giữa anh Th và chị Phan Thị Th không còn nữa nên đề nghị được giải quyết ly hôn với chị Phan Thị Th. Chị Phan Thị Th cũng xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Th không còn nên chị Th đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho vợ chồng chị được ly hôn.
Hội đồng xét xử xét thấy: Cuộc sống hôn nhân giữa anh Trịnh Viết Th và chị Phan Thị Th đã thực sự tan vỡ, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, áp dụng điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho anh Trịnh Viết Th được ly hôn chị Phan Thị Th là phù hợp.
Về con chung: Anh Trịnh Viết Th và chị Phan Thị Th thống nhất vợ, chồng có 01 con chung tên là Trịnh Gia Nh (giới tính: Nữ), sinh ngày 32/01/2013, cháu Nh phát triển bình thường về thể lực và trí lực, không ốm đau bệnh tật gì. Khi ly hôn anh Trịnh Viết Th và chị Phan Thị Th đều yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trịnh Gia Nh và hai bên đều không yêu cầu đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung.
Hội đồng xét xử xét thấy: Anh Trịnh Viết Th và chị Phan Thị Th đều có nguyện vọng được nuôi con đây là nguyện vọng hoàn toàn chính đáng.Tuy nhiên xét điều kiện, hoàn cảnh và đảm bảo cuộc sống sinh hoạt và phát triển về trí lực và thể lực cho cháu bé, thấy rằng: Cháu Trịnh Gia Nh - giới tính: Nữ, đang còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ, bên cạnh đó cháu Nh đang được chị Phan Thị Th và bố mẹ đẻ của chị Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng từ cuối tháng 8/2019 đến nay, cuộc sống sinh hoạt và học tập của cháu Nh đang ổn định. Cháu Trịnh Gia Nh phát triển tốt về thể chất cũng như tinh thần. Hiện nay cháu Nh đang theo học tại lớp 1B trường tiểu học X, huyện Ng, tỉnh H. Anh Trịnh Viết Th và chị Phan Thị Th đều có công ăn việc làm ổn định, thu nhập cao nhưng cả anh Th và chị Th đều chưa có nhà đất riêng, đang ở chung cùng với bố mẹ đẻ. Để không làm xáo trộn cuộc sống sinh hoạt, không gây ảnh hưởng đến tâm lý và sự phát triển bình thường của cháu bé về mọi mặt và để thuận lợi cho việc học tập của cháu Trịnh Gia Nh, do đó giao cháu Trịnh Gia Nh cho chị Phan Thị Th được tiếp tục nuôi dưỡng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Chị Phan Thị Th không yêu cầu anh Trịnh Viết Th đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung. Đây là sự tự nguyện của chị Phan Thị Th nên hội đồng xét xử không xem xét. Chị Phan Thị Th có quyền làm đơn yêu cầu anh Trịnh Viết Th phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung bằng một vụ án khác.
Anh Trịnh Viết Th được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cấm anh thực hiện quyền này và anh có quyền làm đơn xin thay đổi quyền nuôi con theo quy định tại điều 82, 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
Về tài sản chung và công nợ chung:
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh Trịnh Viết Th và chị Phan Thị Th thống nhất vợ, chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Anh Trịnh Viết Th phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Điều 28, Điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 51, 56, 57, 58, 59, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Các Điều 6, 19, 24, 26 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Trịnh Viết Th và chị Phan Thị Th.
2. Về con chung:
2.1 Giao con chung Trịnh Gia Nh, sinh ngày 23 tháng 01 năm 2013 (giới tính: Nữ) cho chị Phan Thị Th trực tiếp nuôi dưỡng.
2.2. Anh Trịnh Viết Th chưa phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Phan Thị Th. Chị Th có quyền làm đơn yêu cầu anh Th phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung bằng một vụ án khác.
2.3. Anh Trịnh Viết Th có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở, ngăn cấm anh thực hiện quyền này và anh có quyền làm đơn xin thay đổi quyền nuôi con.
3. Về án phí: Anh Trịnh Viết Th phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng). Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0002421 ngày 24/10/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. (Anh Th đã nộp đủ tiền án phí dân sự – Hôn nhân và gia đình sơ thẩm).
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Vĩnh Lộc; - UBND xã Th; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hƣơng Giang |