vanban.org

Bản án 03/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T ly hôn anh Nguyễn Văn M.

Về con chung: Giao con Nguyễn Mạnh H, sinh ngày 05.03.2017 cho chị Nguyễn Thị T trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu anh Nguyễn Văn M cấp dưỡng nuôi con. Anh Nguyễn Văn M có quyền thăm nom con sau khi ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "XÉT XỬ"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T ly hôn anh Nguyễn Văn M.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮ K SONG
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2020/HN&GĐ-ST
Ngày 26-02-2020
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG

Với Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Quách Trọng Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Tám; bà Võ Thị Mơ.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Bá Luân – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Đắ k Song.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắ k Song tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Tâm – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đắ k Song xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 197/2019/TLST-HN&GĐ, ngày 06 tháng 12 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2020/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2020/QĐST-HNGĐ ngày 10/02/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Song giữa các đương sự;

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1994. (Có đơn xin xét xử vắng

mặt).

Trú tại: Thôn H, xã H, huyện S, tỉnh Đắ k Nông.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1992. Vắng mặt lần thứ 2.

Trú tại: Trú tại: Thôn H, xã H, huyện S, tỉnh Đắ k Nông.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 29/11/2019, bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:

Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn M đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 07/9/2016 tại UBND xã H, huyện S, tỉnh Đắk Nông. Quá trình chung sống chị T và anh M có 01 con chung tên Nguyễn Mạnh H, sinh ngày 05.03.2017. Trong cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, không còn quan tâm chăm sóc nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, anh chị đã ly thân nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh M.

+ Về con chung: Chị Nguyễn Thị T có nguyện vọng được nuôi con Nguyễn Mạnh H, sinh ngày 05.03.2017 đến tuổi trưởng thành. Chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản: Không có tài sản chung nên không yêu cầu giải quyết.

Qúa trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án đối với bị đơn. Tuy nhiên bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và phiên Tòa lần thứ nhất. Vì vậy, Tòa án không tiến hành lấy lời khai được với bị đơn, không tiến hành hòa giải được giữa các đương sự với nhau.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyệ n Đắ k Song kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự phát biểu:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, HĐXX, Thư ký: Đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng trong vụ án: Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chấp hành không tốt cụ thể: Không chấp hành giấy triệu tập, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần lần 1 và lần 2, phiên tòa lần thức nhất và lần 2 bị đơn đều vắng mặt không có lý do.

Về nội dung vụ án: Cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn M.

Về con chung: Giao con Nguyễn Mạnh H, sinh ngày 05.03.2017 cho chị Nguyễn Thị T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con

Về tài sản: Các đương sự không không có tài sản chung do đó đề nghị HĐXX không đề cập giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của BLTTDS. Bị đơn cư trú tại huyện Đắk Song. Vì vậy, tranh chấp này thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Đắk Song theo quy định tại điể m a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.

Về chấp hành pháp luật của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tống đạt hợp lệ đúng theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Tố tụng dân sự để thông báo thụ lý vụ án, triệu tập đương sự và các văn bản tố tụng khác cho đương sự. Nguyên đơn chấp hành tốt. Bị đơn bỏ đi khỏi nơi cư trú, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn vắng mặt nên tại phiên tòa ngày 10/02/2020 HĐXX đã hoãn phiên tòa lần thứ nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 227 của BLTTDS. Quyết định hoãn phiên toà có thông báo thời gian mở lại phiên toà đã tống đạt hợp lệ cho các đương sự nhưng bị đơn vẫn vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai. Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc bị đơn không chấp hành pháp luật được coi tự ý từ bỏ quyền được tham gia tố tụng, quyền tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình quy định tại Điều 6, Điều 72 của BLTTDS.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn M kết hôn từ năm 2016, đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện S, tỉnh Đăk Nông, việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Đây là hôn nhân hợp pháp, kết hôn đúng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. Xét yêu cầu ly hôn của chị T, năm 2016 chị và anh M kết hôn, tuy nhiên trong cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, không còn quan tâm chăm sóc nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, anh chị đã ly thân.

Trong quan hệ hôn nhân phải dựa trên tình cảm, tình yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc trong gia đình. Tuy nhiên chị T không còn tình cảm đối với anh M, vợ chồng đã sống ly thân, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử thấy yêu cầu ly hôn của chị là có cơ sở, cần chấp nhận.

Về con chung: Chị T và anh M có 01 con là Nguyễn Mạnh H, sinh ngày 05.03.2017 hiện nay đang sống với chị T, anh M không chăm sóc con cái nên để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của con HĐXX thấy cần giao con Nguyễn Mạnh H, sinh ngày 05.03.2017 cho chị T trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Các đương sự không có tài sản chung nên không yêu cầu giải quyết.

Xét quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyệ n Đắ k Song kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự và phát biểu quan điểm về đường lối xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu toàn bộ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 143; Điều 147; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 19; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí toà án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T ly hôn anh Nguyễn Văn M.

2. Về con chung: Giao con Nguyễn Mạnh H, sinh ngày 05.03.2017 cho chị Nguyễn Thị T trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Chị Nguyễn Thị T không yêu cầu anh Nguyễn Văn M cấp dưỡng nuôi con.

Anh Nguyễn Văn M có quyền thăm nom con sau khi ly hôn.

3. Về tài sản: Do không có yêu cầu giải quyết nên HĐXX không đề cập.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Tiền án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Buộc chị Nguyễn Thị T phải chịu toàn bộ, được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông theo biên lai số 0002353 ngày 06/12/2019.

Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc Tòa án niêm yết bản án lên Tòa án cấp trên yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhậ n

T/M HỘ I ĐỒ NG XÉ T XƢ̉

- STP tỉnh Đắ k Nông;

Thẩ m phá n – chủ tọa phiên tòa

- TAND tỉ nh Đắ k Nông;

- VKSND huyệ n Đắ k Song;

- Chi cục THA huyệ n Đắ k Song;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ.

Quách Trọng Sơn

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

Cỡ chữ