vanban.org

Bản án 03/2020/HNGĐ-ST — Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng vào các Điều 9, 14, 51, 53 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Lê Thị H và anh Nguyễn Văn L là vợ chồng. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "LE THI H - NGUYEN VAN L"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng vào các Điều 9, 14, 51, 53 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN HỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 03/2020/HNGĐ-ST
Ngày 25-3-2020
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG - TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thùy Dung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lương Thị Anh Đào.

2. Ông Lê Văn Luận.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Quốc Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 25-3-2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 320/2019/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2019 về “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Lê Thị H, sinh năm 1981.

Bị đơn: Nguyễn Văn L, sinh năm 1963.

Cùng địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện K, tỉnh Đồng Tháp.

Chị H và anh L đều vắng mặt tại phiên tòa (cả hai đều có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn Lê Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Theo đơn khởi kiện ngày 05-12-2019 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án chị H trình bày:

Vào năm 2010, chị H và anh L yêu thương nhau và chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống không có con chung. Do cuộc sống có nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được, có thời gian ly thân từ đầu năm 2019 đến nay, trong thời gian ly thân không thề hàn gắn, tình cảm không còn, có sống chung cũng không hạnh phúc. Nay chị H làm đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng yêu cầu giải quyết những vấn đề sau:

- Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn L.

- Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn Nguyễn Văn L có đơn xin xét xử vắng mặt. Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án anh L trình bày:

Qua trình bày của chị H, anh L thống nhất là vào năm 2010, anh L và chị H có tổ chức đám cưới nhưng không đăng ký kết hôn. Nay chị H yêu cầu ly hôn anh L đồng ý; Về con chung: Không có; Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng dân sự:

Xét thấy, Tòa án thụ lý vụ án ly hôn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa nguyên đơn Lê Thị H và bị đơn Nguyễn Văn L vắng mặt (cả hai đều có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt). Căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt chị H và anh L.

[2] Về nội dung vụ án:

- Về hôn nhân: Chị H và anh L tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2010 cho đến nay vẫn không đăng ký kết hôn. Căn cứ khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân gia đình quy định:

“1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.

Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.

Do đó, không công nhận chị Lê Thị H và anh Nguyễn Văn L là vợ chồng.

Tuy nhiên, tại khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân gia đình quy định:

“…

2. Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của luật này; nếu có yêu cầu về con chung và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.”. Do vậy:

- Về con chung: Chị H và anh L đều thừa nhận trong thời gian sống chung với nhau như vợ chồng không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung: Chị H và anh L trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về nợ chung: Chị H và Anh L trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án hôn nhân và gia đình: Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, Anh L không phải chịu tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng vào các Điều 9, 14, 51, 53 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Lê Thị H và anh Nguyễn Văn L là vợ chồng.

Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:

2. Về con chung: Chị H và anh L trong thời gian sống chung với nhau như vợ chồng không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

3. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

4. Về nợ chung: Các đương sự trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án hôn nhân và gia đình:

Chị Lê Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí Chị H đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), theo biên lai thu số BH/2017/0008428 ngày 13-12-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng. Chị H đã nộp đủ tiền án phí sơ thẩm.

Anh Nguyễn Văn L không phải chịu tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Nguyên đơn Lê Thị H và bị đơn Nguyễn Văn L có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ