- Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Ly - Hiếu"
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN! HUYỆN!V! TỈNH!N! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản!án!số: 03/2020/HNGĐ - ST Ngày 13/02/2020 (V/v Tranh chấp về hôn nhân và gia đình) |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
!
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!V,!TỈNH!N!
Với!thành!phần!hội!đồng!xét!xử!sơ!thẩm!gồm!có:!
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà : Ông Hà!Thiện!Thành!
Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn!Đình!Phong!và ông Đinh!Công!Hiến
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Bùi!Hồng!Mơ – Thư ký Toà án nhân dân huyện V, tỉnh N.
§¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyÖn V, tØnh N tham gia phiªn toµ: Bµ Hoàng!Thị!Thu!Lan - KiÓm s¸t viªn
Ngày 13 tháng 02 năm 2020, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện V, tỉnh N tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 132/2019/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2019 về việc Tranh chấp hôn nhân và gia đình. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 03/2020/QĐST-HNGĐ ngày 16/01/2020 giữa các đương sự:
Nguyªn ®¬n: Chị Đỗ!Thị!Lưu!L, sinh n¨m 1992; địa chỉ số nhà 15, ngõ 2, đường X, phố K, phường T, thành phố N, tỉnh N; (Có mặt)
BÞ ®¬n: Anh Hà!Thanh!H, sinh n¨m 1991; địa chỉ thôn Đ, xã G, huyện V, tỉnh N; (Vắng mặt).
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 26 tháng 9 năm 2019, và các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên Toà, nguyên đơn là chị Đỗ Thị Lưu L trình bày: Giữa chị Đỗ Thị Lưu L và bị đơn là anh Hà Thanh H, kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 06 tháng 10 năm 2015, tại Uỷ ban nhân dân xã G, huyện V, tỉnh N. Sau khi kết hôn hai người chung sống hoà thuận, hạnh phúc đến năm 2016 thì tình cảm vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu do tính tình không hợp, anh H không tu trí làm ăn, thường xuyên chơi bời cờ bạc, không quan tâm đến vợ con, nên vợ chồng không quan hệ với nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình hai bên khuyên giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn căng thẳng nên chị L đã bỏ về nhà mẹ đẻ tại đường X, phố K, phường T, thành phố N, tỉnh N để ở và hai vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2017 cho tới nay. Chị L thấy tình cảm vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị L đã làm đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hà Thanh H.
Về con chung chị Đỗ Thị Lưu L trình bày: Vợ chồng chị có một con chung là cháu Hà Tuấn P, sinh ngày 30/9/2017. Hiện tại chị Đỗ Thị Lưu L là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Nếu được Toà án chấp nhận cho ly hôn, chị L đề nghị Tòa án giao con chung cho chị là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc sau ly hôn, chị không yêu cầu anh Hà Thanh H phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho chị.
Về quan hệ tài sản và công nợ chung: Chị Đỗ Thị Lưu L không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về phía bị đơn là anh Hà Thanh H đã được Tòa án giao thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng cố tình vắng mặt không có lý do.
T¹i phiªn toµ vÞ ®¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyÖn V, ph¸t biÓu ý kiÕn vÒ viÖc tu©n theo ph¸p luËt Tè tông d©n sù trong qu¸ tr×nh gi¶i quyÕt vô ¸n cña ThÈm ph¸n, Héi ®ång xÐt xö, Thư ký phiên tòa; viÖc chÊp hµnh ph¸p luËt cña ngêi tham gia tè tông d©n sù, kÓ tõ khi thô lý vô ¸n cho ®Õn tríc thêi ®iÓm Héi ®ång xÐt xö nghÞ ¸n đều tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 §iÒu 147; ®iÓm b kho¶n 2 §iÒu 227, kho¶n 3 §iÒu 228 Bé luËt Tè tông D©n sù; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
- Xử: Cho chị Đỗ Thị Lưu L được ly hôn anh Hà Thanh H;
- Về con chung: Tiếp tục giao cháu Hà Tuấn P, sinh ngày 30/9/2017 cho chị Đỗ Thị Lưu L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, cho tới khi cháu Hà Tuấn Phát đủ 18 tuổi.
- Về án phí: Chị Đỗ Thị Lưu L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
!
!
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN!
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà; Hội đồng xét xử nhận định:
[1]!Về!thủ!tục!tố!tụng:!Chị Đỗ Thị Lưu L có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh N giải quyết cho chị được ly hôn anh Hà Thanh H; anh Hà Thanh h có nơi cư trú tại xã G, huyện V, tỉnh N, đây là vụ án tranh chấp về Hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh N theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Anh Hà Thanh H (là bị đơn trong vụ án) đã được Toà án nhân dân huyện V triệu tập hợp lệ đến phiên Toà xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án: !!!![2]!Về!quan!hệ!hôn!nhân:!Quan hệ hôn nhân giữa chị Đỗ Thị Lưu L và anh Hà Thanh H trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã G, huyện V, tỉnh N vào ngày 06 tháng 10 năm 2015 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ, sau khi kết hôn hai người sống hoà thuận hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do tính tình vợ chồng không hợp, kinh tế gia đình khó khăn, anh H thường xuyên chơi bời, cờ bạc không quan tâm đến vợ con, khi được chị L và gia đình khuyên bảo nhưng anh H không nghe, dẫn đến vợ chồng cãi chửi nhau, đánh nhau. Theo thời gian, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở nên trầm trọng, nặng nề, thực tế chị L đã bỏ về nhà mẹ đẻ tại đường X, phố K, phường T, thành phố N, tỉnh N để ở và vợ chồng đã ly thân nhau từ tháng 01 năm 2017 đến nay, cũng từ đó hai người không quan tâm đến nhau, quan hệ vợ chồng chỉ tồn tại trên danh nghĩa. Điều này phù hợp với đơn xin xác nhận ngày 03/12/2019 do chị L giao nộp cho Tòa án, có xác nhận của chi hội phụ nữ, trưởng thôn Đ và UBND xã G. Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án nhân dân huyện V đã giao thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng anh Hà Thanh H cố tình vắng mặt không có lý do. Điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật, không còn thiện chí để tìm cách đoàn tụ vợ chồng, chứng tỏ quan hệ vợ chồng giữa chị L và anh H đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đỗ Thị Lưu L.
[3]!Về!quan!hệ!con!chung: Chị Đỗ Thị Lưu L và anh Hà Thanh H có một con chung là cháu Hà Tuấn P, sinh ngày 30/9/2017. Chị L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là quyền, đồng thời cũng là nghĩa vụ của cha mẹ. Tuy nhiên, việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét mọi mặt và quyền lợi của con chưa thành niên. Hội đồng xét xử xét thấy, chị L và anh H có một con chung chưa đủ ba tuổi, chị L là công nhân của Công ty cổ phần đầu tư thương mại T tại phường N, thành Phố N công việc, thu nhập ổn định. Từ khi ly thân con chung đều do chị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chị L không yêu cầu anh Hà Thanh H phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho chị. Trong thời gian trước đây và hiện tại cháu Hà Tuấn P đều do chị L là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và bảo đảm tốt về mọi mặt. Anh Hà Thanh H không có lời khai, không có mặt tại phiên tòa, nên không có quan điểm của anh H về con chung. Quan điểm của chị L đưa ra là tự nguyện, không trái pháp luật. Vì vậy, cần giao con chung Hà Tuấn P cho chị Đỗ Thị Lưu L là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục sau ly hôn, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung của anh Hà Thanh H cho chị Đỗ Thị Lưu L. Sau này nếu hai bên có tranh chấp về việc nuôi và cấp dưỡng nuôi con chung Tòa án sẽ xem xét giải quyết bằng vụ án dân sự khác.
[4]! Về! quan! hệ! tài! sản! chung! và! công! nợ! chung:! Chị Đỗ Thị Lưu L không yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ tài sản chung, công nợ chung. Vì vậy, vấn đề tài sản chung và công nợ chung, Tòa án không xem xét giải quyết.
[5] Về! án! phí: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Chị Đỗ Thị Lưu L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.
[6] Về! quyền! kháng! cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì!các!lẽ!trên,
QUYẾT!ĐỊNH!
!
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 §iÒu 147; ®iÓm b kho¶n 2 §iÒu 227, kho¶n 3 §iÒu 228 Bé luËt Tè tông D©n sù; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Xử:!1.!Về!quan!hệ!hôn!nhân:!!
Chị Đỗ Thị Lưu L và anh Hà Thanh H được ly hôn;
2.!Về!con!chung.!Giao cho chị Đỗ Thị Lưu L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung Hà Tuấn P, sinh ngày 30/9/2017. Thời hạn nuôi con tính từ ngày 13/02/2020 cho tới khi cháu Hà Tuấn P đủ 18 tuổi, nếu không có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung của anh Hà Thanh H cho chị Đỗ Thị Lưu L. Khi nào chị L có yêu cầu, Tòa án xem xét, giải quyết bằng vụ án dân sự khác.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
3.!Về!án!phí: Chị Đỗ Thị Lưu L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn. Được khấu trừ 300.000 đồng, tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện V theo biên lai số AA/2013/0001322 ngày 09/10/2019.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự”.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
! !!!!!!!!!NƠI!NHẬN!
| - Tòa án ND tỉnh N; - Các đương sự; - Chi cục T.H.A DS huyện V; - VKSND huyện V; - UBND xã G; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | T/M!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM! THẨM!PHÁN!–!CHỦ!TOẠ!PHIÊN!TOÀ! !!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!Hà!Thiện!Thành! ! ! ! ! ! |