- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Chu Văn Thành - Nguyễn Thị Thêm, Bùi Văn Tuấn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Chu Văn Th, buộc chị Nguyễn Thị A và anh Bùi Văn B có trách nhiệm bồi thường thương tích cho ông Th các khoản tiền sau: Tiền khám chữa bệnh nội trú thu phí số tiền 196.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 357 Bộ luật Dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƢỜNG TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2020/DS-ST Ngày 30 - 7 - 2020 "V/v Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng". |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƢỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Trọng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đặng Văn Minh.
2. Ông Nguyễn Thái Hòa.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Đạo - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 130/2019/TLST- DS ngày 06 tháng 12 năm 2019 về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2020/QĐXXST-DS ngày 05/6/2020, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Chu Văn Th, sinh năm 1954.
Địa chỉ: Thôn Mới, xã T, huyện V, Vĩnh Phúc, “có mặt”.
Bị đơn:
- Chị Nguyễn Thị A, sinh năm 1983, “vắng mặt”.
- Anh Bùi Văn B (chồng chị A), sinh năm 1981, “có mặt”.
Địa chỉ: Thôn Mới, xã T, huyện V, Vĩnh Phúc.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 02/12/2019, các lời khai tiếp theo và quá trình làm việc tại Tòa án nguyên đơn ông Chu Văn Th trình bày:
Do tối hôm trước ông đi đánh cá vẫn để lưới ở ao nên đến khoảng 7 giờ sáng ngày 21/6/2019 ông đi lấy lưới đánh cá, do không có túi đựng lưới nên ông đã lấy một tấm ở trên giàn phơi của nhà anh B, chị A để bó lưới lại. Khi lấy thì nhà anh B chị A không có ai ở nhà, khi ông đang bó lưới lại thì chị A đưa con đi học về và nhìn thấy. Chị A nói ông ăn cắp và lấy dép đánh vào cổ ông, ông thấy bực nên đã chửi lại và đá vào chân chị A. Sau đó chị A đi về và gọi anh B; anh B ra có chửi ông và đấm vào ngực ông, ông có đánh lại anh B nhưng đánh ở vị trí nào thì ông không nhớ. Sau khi xảy ra xô sát ông vẫn đi đánh cá bình thường. Đến chiều ngày hôm sau ông thấy mặt mũi bị sưng lên nên ông đi khám ở Phòng khám đa khoa Nam Long, kết quả khám là bị dịch trào màng phổi. Sau đó ông về nhà anh B, chị A nói là ông bị dịch trào màng phổi nên yêu cầu anh B chị A phải đưa ông đi bệnh viện cấp cứu. Tuy nhiên anh B, chị A không đồng ý và chửi bới ông. Ông quay về nhà cầm dao đến nhà anh B, chị A mục đích để dọa, nhưng anh B chị A đóng cổng sắt lại nên ông chỉ cầm dao và chém vài nhát vào cổng. Sau đó ông ra Bệnh viện Đa khoa huyện Vĩnh Tường khám và sau đó được chuyển đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc để mổ cấp cứu. Tối cùng ngày, con trai ông là Chu Văn N, sinh năm 1988 có làm đơn ra trình báo Công an huyện Vĩnh Tường, Công an huyện Vĩnh Tường đã báo các bên ra giải quyết sau đó đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với ông và anh B chị A.
Theo đơn khởi kiện ông đề nghị anh B, chị A phải bồi thường cho ông 20.000.000đ các khoản chi phí liên quan, sau đó quá trình giải quyết tại Tòa án ông đề nghị anh B, chị A phải bồi thường cho ông 30.000.000đ. Tại phiên tòa ông đề nghị anh B, chị A phải bồi thường cho ông các khoản chi phí cụ thể: Tiền viện phí 8.712.350đ, tiền mua thuốc ngoài viện 3.000.000đ, thời gian không làm việc được 30 ngày x 300.000đ/ngày = 9.000.000đ, tiền ăn 05 ngày cho 02 người = 1.000.000đ, tiền thuê taxi 8 lần x 150.000đ = 1.200.000đ, tiền giám định y khoa 1.000.000đ, tiền khám tại Phòng khám Đa khoa Nam Long = 200.000đ, tiền ca mổ = 1.500.000đ, tiền bồi dưỡng do bị tổn thất 5% sức khỏe số tiền 2.000.000đ; tổng cộng: 27.612.350đ. Đối với tiền khám tại Bệnh viện Đa khoa Vĩnh Tường = 500.000đ, tiền phạt Vi phạm hành chính = 750.000đ ông không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn chị Nguyễn Thị A trình bày:
Ngày 21/6/2019 khi chị đưa con đi học về thì nhìn thấy ông Chu Văn Th lấy trộm của nhà chị một tấm lưới. Chị có hỏi ông Th tại sao lại lấy lưới nhà chị thì ông Th xông vào chửi và đánh chị. Sau đó có người hàng xóm gọi cho anh TB (là chồng chị) biết, anh B có nói với ông Th là “ông thích đánh nhau à mà đánh cả đàn bà?” thì ông Th trả lời là “thích” và đấm anh B một cái vào mắt trái. Anh B đẩy ông Th vào ven rào lưới B40, ông Th đứng dậy tiếp tục đấm thêm một cái vào anh B. Sau đó được mọi người can ngăn không đánh nhau nữa nên các bên đi về. Đến chiều ngày hôm sau ông Th có xuống nhà chị chửi bới và cầm dao chém nhiều nhát vào cổng nhà chị và có những lời lẽ thách thức sẽ chém cả nhà chị. Ngày 22/6/2019 ông Th bảo chị ra Công an huyện Vĩnh Tường làm việc. Sau đó, Công an huyện Vĩnh Tường đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với vợ chồng chị mỗi người phải nộp phạt với số tiền là 750.000đ/01 người. Ngày 09/9/2019 vợ chồng chị đã nộp phạt đủ. Đến nay ông Th yêu cầu vợ chồng chị phải bồi thường cho ông Th số tiền là 30.000.000đ, quan điểm chị không đồng ý bồi thường vì sự việc xảy ra là do ông Th gây ra trước. Ngoài ra vợ chồng chị cũng không yêu cầu ông Th phải bồi thường gì cho anh chị.
Bị đơn anh B nhất trí với các nội dung chị A trình bày, anh không bổ sung gì.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ thời điểm nhận đơn khởi kiện cho đến khi việc thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Quá trình chuẩn bị xét xử từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử Thẩm phán giải quyết vụ án đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Th chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn chị A, anh B không chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 584, 585, 586, 590 và 468 của Bộ luật Dân sự xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Th, buộc anh B và chị A có trách nhiệm bồi thường cho ông Th số tiền 7.576.000đ bao gồm chi phí điều trị, tiền thuốc, tiền thuê xe taxi và tiền bồi dưỡng sức khỏe.
Về án phí ông Th không phải chịu, anh B, chị A phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Đây là tranh chấp về đòi bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Về nội dung: Khoảng 7 giờ sáng ngày 21/6/2019, tại thôn Mới, xã T, huyện Vdo ông Th lấy tấm lưới của gia đình chị A anh B để cuốn lưới đánh cá của ông, dẫn đến chị A và ông B mâu thuẫn cãi chửi nhau. Trong khi mâu thuẫn ông Th dùng chân đạp trúng chị A, còn chị A dùng dép tổ ong vụt vào mặt ông Th. Do ông Th có hành vi đánh chị A dẫn đến ông Th và anh B (chồng chị A xảy ra mâu thuẫn), anh B dùng tay túm vào cổ ông Th đẩy vào hàng rào B40, ông Th dùng tay đấm vào mặt anh B. Ngoài ra ông Th cho rằng anh B còn đấm ông Th 04-5 cái vào vùng ngực, tuy nhiên anh B không thừa nhận.
Sau khi sự việc xảy ra, ngày 22/6/2019 ông Th đi khám ở Phòng khám đa khoa Nam Long thì bị phát hiện tràn khí dưới da vùng cổ và thành ngực hai bên; ông Th tiếp tục đi khám ở Bệnh viện Đa khoa Vĩnh Tường, sau đó được đưa đi điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc đến ngày 27/6/2019 thì ra viện. Tại kết luận giám định số 227 của Trung tâm Pháp y tỉnh Vĩnh Phúc xác định ông Th bị tổn thương cơ thể 5%. Anh B, chị A không bị thương tích, không phải điều trị tại cơ sở y tế nào và từ chối giám định. Do tỷ lệ thương tích 5% chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm do vậy Cơ quan điều tra không khởi tố vụ án hình sự.
Về thương tích của ông Th Hội đồng xét xử xét thấy: Thực tế sáng ngày 21/6/2019 giữa ông Th và chị A có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do ông Th đi lấy lưới đánh cá, do không có túi đựng lưới nên ông đã lấy một tấm ở trên giàn phơi của nhà anh B chị A để bó lưới lại dẫn đến chị A và ông Th mâu thuẫn cãi chửi nhau. Hai bên có xảy ra va chạm, xô sát, ông Th có dùng chân đạp trúng chị A, còn chị A dùng dép tổ ong vụt vào mặt ông Th. Ngoài ra sau đó giữa ông Th và anh B tiếp tục xảy ra mâu thuẫn, anh B dùng tay túm vào cổ ông Th đẩy vào hàng rào B40, ông Th dùng tay đấm vào mặt anh B. Sau khi sự việc xảy ra, Công an huyện Vĩnh Tường đã lập biên bản và xử phạt hành chính đối với ông Th, chị A và anh B mỗi người số tiền 750.000đồng về hành vi đánh nhau. Ông Th, chị A và anh B đều đã chấp hành và đã nộp phạt đầy đủ.
Tại phiên tòa các bên đều thừa nhận có việc va chạm xô sát, tuy nhiên anh B, chị A cho rằng anh chị không gây thương tích cho ông Th, hơn nữa nguyên nhân xảy ra sự việc là do ông Th, do đó anh chị không đồng ý bồi thường. Tuy nhiên có đủ cơ sở khẳng định thương tích của ông Th do anh B, chị A trực tiếp gây nên, do vậy anh B, chị A phải có trách nhiệm bồi thường thương tích cho ông Th.
Xem xét yêu cầu khởi kiện của ông Th thấy rằng: Theo quy định tại Điều 584 của Bộ luật Dân sự quy định về nguyên tắc bồi thường thì chỉ các chi phí thực tế cần thiết, phù hợp với tính chất, mức độ của thiệt hại, phù hợp với giá trung bình ở từng địa phương tại thời điểm chi phí và phải có chứng từ hoặc giấy biên nhận hợp lệ về các khoản chi phí mới được chấp nhận, do đó:
Đối với tiền giám định y khoa hết 1.000.000đ do Công an huyện Vĩnh Tường chi trả cho Trung tâm giám định và ông không phải nộp; tiền ca mổ 1.500.000đ, tiền mua thuốc ngoài viện 3.000.000đ quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông Th trình bày tự chi phí và mua ngoài, không có hóa đơn chứng từ về việc chi phí do vậy không có cơ sở chấp nhận.
Đối số tiền 200.000đ ông Th khai chi phí khám tại Phòng khám đa khoa Nam Long, tuy nhiên xác minh được biết chi phí chỉ hết 172.300 đồng và khoản tiền viện phí 8.712.350đ, cả hai khoản tiền này đều được bảo hiểm y tế thanh toán toàn bộ, ông Th không phải chi trả do vậy không được chấp nhận.
Đối với số tiền 196.050đ tiền khám chữa bệnh nội trú thu phí, 70.000đ khám chữa bệnh nội trú, 210.000đ tiền thuốc tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc và 150.000đ chi phí dịch vụ khám bệnh ngày 03/7/2019 tại Bệnh viện Hữu nghị Lạc Việt: Các khoản tiền này đều có hóa đơn, chứng từ hợp lệ và phát sinh trong thời gian điều trị thương tích do vậy cần chấp nhận.
Đối với yêu cầu chi phí tiền thuê xe taxi đưa đi điều trị 8 lượt x 150.000đ = 1.200.000đ, Hội đồng xét xử xét thấy: Khoảng cách từ xã T đi đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc và Bệnh viện Lạc Việt khoảng 15km, chi phí mỗi lượt khoảng 150.000đ, ông Th đề nghị 08 lượt taxi là phù hợp được chấp nhận.
Đối với yêu cầu của ông Th về tính thời gian mất thu nhập và mức bồi thường 30 ngày x 300.000đ/ngày = 9.000.000đ, như vậy là không phù hợp vì: Thương tích của ông Th không quá nặng, sau thời gian điều trị ở Bệnh viện về vết thương đã ổn định, ông vẫn có thể sinh hoạt bình thường và lao động được do vậy chỉ chấp nhận tính cho ông Thành khoản tiền mất thu nhập trong thời gian ông điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc là 05 ngày và tính chi phí công người nhà đi chăm sóc ông Th bị mất trong thời gian ông Th điều trị ở Bệnh viện là 05 ngày. Ông Th yêu cầu tính công thu nhập 300.000đ/ngày là cao, xác minh tại địa phương cho biết đối với gia đình ông Th làm ruộng và lao động tự do thu nhập bình quân chỉ khoảng 150.000đ/ngày, do đó chỉ tính tiền công mất thu nhập với mức 150.000đ/ngày. Như vậy, tiền mất thu nhập của ông Th là 05 ngày cộng với tiền mất thu nhập của người nhà đi chăm sóc bị mất 05 ngày, tổng cộng là 10 ngày x 150.000đ/ngày = 1.500.000đ.
Đối với chi phí tiền ăn 05 ngày cho 02 người số tiền 1.000.000đ, ông Th đã được chấp nhận tiền mất thu nhập của bản thân và người đi chăm sóc, do vậy yêu cầu tính chi phí tiền ăn không được chấp nhận.
Đối với khoản tiền 750.000đ phạt Vi phạm hành chính, tiền khám tại Trung tâm y tế huyện Vĩnh Tường 500.000đ tại phiên tòa ông Th tự nguyện không đề nghị do vậy không xét.
Đối với tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe do mất 05% sức khỏe số tiền 2.000.000đ. Thực tế ông Th mất 05% sức khỏe, sau khi ra viện cũng cần được bồi dưỡng để phục hồi sức khỏe, do đó ông yêu cầu mức bồi thường 2.000.000đ là phù hợp.
Như vậy, tổng số tiền ông Th được chấp nhận là 5.326.000đ (làm tròn).
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị A, anh B phải chịu 300.000 đồng án phí; ông Th không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 584, 585, 586, 590, 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Chu Văn Th, buộc chị Nguyễn Thị A và anh Bùi Văn B có trách nhiệm bồi thường thương tích cho ông Th các khoản tiền sau: Tiền khám chữa bệnh nội trú thu phí số tiền 196.050đ, tiền khám chữa bệnh nội trú 70.000đ, tiền thuốc tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc 210.000đ; chi phí dịch vụ khám bệnh ngày 03/7/2019 tại Bệnh viện hữu nghị Lạc Việt 150.000đ; tiền thuê xe taxi đưa đi khám chữa bệnh điều trị 8 lượt x 150.000đ = 1.200.000đ; tiền mất thu nhập của bản thân ông Th 05 ngày và tiền mất thu nhập của người chăm nuôi 05 ngày trong thời gian ông Th điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc, tổng cộng 10 ngày x 150.000đ/ ngày = 1500.000đ; tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe do mất 05% sức khỏe số tiền 2.000.000đ. Tổng cộng số tiền 5.326.000đ (làm tròn).
Kể từ ngày ông Th có đơn đề nghị thi hành án cho đến khi thi hành án xong toàn bộ khoản tiền bồi thường trên, hàng tháng chị A, anh B còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
2. Về án phí:
- Ông Chu Văn Th không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- Chị Nguyễn Thị A, anh Bùi Văn B phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm.
Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Vĩnh Tường; - Chi cục THADS huyện Vĩnh Tường; - Các đương sự; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Nguyễn Xuân Trọng |