- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Về việc tranh chấp kiện đòi lại tài sản, buộc tháo giỡ công trình trái phép"
- Tòa quyết gì? Áp dụng c c Điều 256, Điều 265, Điều 266, Điều 267 của Bộ luật d n sự 2005; hoản 3 Điều 100 luật đất đai năm 2013; hoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản l và sử dụng n phí và lệ phí Tòa …
- Căn cứ chính? Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 100 Luật Đất đai; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản n số: 03/2020/DS-PT Ngày: 16-6-2020 Về việc tranh chấp kiện đòi lại tài sản, buộc tháo giỡ công trình trái phép |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Thành ph n Hội đồng x t xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Hồng Hải
- Thẩm phán:
Ông Hồ Đức Quang
Bà Trương Thị Lệ Thu
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoa – Thư Toà n nh n d n t nh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Dương Thị T Hiền - Kiểm s t viên.
Ngày 13 tháng 5 năm 2020, tuyên n ngày 16 th ng 6 năm 2020, tại trụ sở Toà n nh n d n t nh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử phúc thẩm công hai vụ n d n sự thụ l số 03/2020/TLPT - DS ngày 16 tháng 01 năm 2020 về việc “tranh chấp kiện đòi lại tài sản và buộc tháo giỡ công trình xây dựng trái phép”
Theo quyết định đưa vụ n ra xét xử phúc thẩm số: 06/2020/QĐXX-PT ngày 05 tháng 3 năm 2020, gi a c c đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim T, địa ch : Số 98, đường N, thành phố Hà Tĩnh, t nh Hà Tĩnh, vắng mặt;
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Hoài A, địa ch ; Số 98, đường N, thành phố Hà Tĩnh, t nh Hà Tĩnh, có mặt;
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp ph p của nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc Ánh, bà Võ Thị Hồng Nhung, địa ch : Luật sư Văn phòng Luật sư Lê Hùng, thuộc Đoàn Luật sư t nh Hà Tĩnh, địa ch : số 263 Nguyễn Du, thành phố Hà Tĩnh, t nh Hà Tĩnh, có mặt;
- Bị đơn: Ông Phan Đức K, địa ch : Số 96, đường N, thành phố Hà Tĩnh, t nh Hà Tĩnh, có mặt;
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Quốc Hoàng, địa ch : Tổ d n phố 4, phường Bắc Hà, thành phố Hà Tĩnh, t nh Hà Tĩnh, có mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Lê Thị Y, địa ch : số 96, đường N, thành phố Hà Tĩnh, t nh Hà Tĩnh, có mặt;
+ Bà Phan Thị T, bà Phan Thị T L, ông Phan Trọng  (tên gọi h c: Phan Văn T), bà Phan Thị T, bà Phan Thị Á, ông Phan Minh T, ông Phan Đức H, bà Lê Thị Lệ H, bà Phan Thị Thúy N, ông Phan Vương Hoài V, ông Phan Vương Hoài B, đều ủy quyền cho ông Phan Đức K, địa ch : Số 96, đường N, thành phố Hà Tĩnh, t nh Hà Tĩnh tham gia giải quyết vụ n, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn hởi iện và qu trình giải quyết vụ n đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp ph p của nguyên đơn thống nhất trình bày:
Ngày 26/12/1992, ông Nguyễn Công N và bà Nguyễn Thị Kim T nhận chuyển nhượng của bà Dương Thị X (đã chết) diện tích 115 m2 (chiều dài 23m x rộng 5m) và một ngôi nhà x y cấp bốn có diện tích 34 m2, cùng diện tích 60 m2 có ngôi nhà cấp 4 x y dựng ở trên đất, (chiều dài 12m, chiều rộng 5m) tứ cận: phía Bắc gi p nhà bà Phượng, phía Nam giáp nhà bà X, phía Đông gi p bờ sông cụt, phía T y gi p đường Nguyễn Công Trứ. Ngày 31/12/1992, Uỷ ban nh n d n thị xã Hà Tĩnh đã có Quyết định số 1603-QĐ/UB công nhận quyền sử dụng thửa đất trên cho bà Nguyễn Thị Kim T. Do phần đất 60 m2 nằm trong ch giới quy hoạch đường Nguyễn Công Trứ nên hông được ghi vào trong quyết định giao đất tại thời điểm đó. Năm 1995 ông Phan Trọng Ân (con trai bà Dương Thị X) đã có hành vi cản trở hông cho gia đình ông N, bà T sử dụng phần diện tích 60 m2 đất nói trên, vì cho rằng đất đó nằm trong ch giới mở đường nên gia đình ông Ân hông b n. Ông Nguyễn Công N đã làm đơn hởi iện yêu cầu Tòa n thị xã Hà Tĩnh giải quyết nội dung tranh chấp. Ngày 16/6/1995 Tòa án nhân dân thị xã Hà Tĩnh (nay là Tòa n nh n d n thành phố Hà Tĩnh) đã ra Bản n d n sự sơ thẩm số 04/1995/DSST, Quyết định: “Ông Nguyễn Công N được quyền sử dụng số đất 60m2 (chiều dài 12m, chiều rộng 5m), phía tây giáp đường Nguyễn Công Trứ, phía nam giáp đất và nhà anh Ân, phía đông giáp đất và nhà anh N (nhà lớn), phía bắc giáp nhà bà Phượng. Được quyền sở hữu 01 gian nhà cấp bốn có chiều rộng bám đường Nguyễn Công Trứ là 4m, chiều dài tính từ đường Nguyễn Công Trứ vào nhà lớn ông N là 8,5m. Tổng diện tích là 34 m2”.
Khi có Bản n của Tòa n nh n d n thị xã Hà Tĩnh bà T đã sử dụng ổn định và đóng thuế cho nhà nước đầy đủ trên diện tích đất được giao. Năm 2007 nhà nước thu hồi đất gia đình bà T 12 m 2 (rộng 5m x dài 2,4m) để mở đường Hào Thành nên đất bà T còn 163m2 (bà T đóng thuế đầy đủ thể hiện tại hóa đơn đóng thuế của gia đình). Ông Phan Đức K (em trai ông Phan Trọng Â) về sinh sống trên phần đất và nhà cũ của bà Dương Thị X được một thời gian, đến năm 2011 ông Phan Đức K láng sân, năm 2013 ông K x y dựng ốt làm dịch vụ cầm đồ ( hoảng 12 m2) trên phần diện tích 60m2 đất của gia đình bà T. Năm 2018 ông K đổ đất, đ bịt lối vào của gia đình bà T. Sự việc trên đã được gia đình bà T b o chính quyền địa phương, Ủy ban nh n dân phường Tân Giang, thành phố Hà Tĩnh nhiều lần mời hai gia đình đến làm việc nhưng ông K hông chấp hành.
Tại đơn hởi iện bà T yêu cầu: Buộc gia đình ông Phan Đức K trả lại tài sản là phần đất đang chiếm gi tr i phép 20m2. Tuy nhiên, qua xem xét thẩm định tại chỗ, ết quả đo vẽ của cơ quan chức năng thì phần diện tích ốt ông K x y dựng trên đất bà T là 16.1 m2 nên bà T yêu cầu ông Phan Đức K trả lại phần diện tích đất 16.1m2 và buộc th o dỡ công trình x y dựng tr i phép trên phần diện tích đất của gia đình bà.
- Bị đơn anh Phan Đức K và người đại diện theo ủy quyền ông Võ Quốc Hoàng trình bày:
Nguồn gốc đất của gia đình do cha ông để lại cho ông Phan Trọng Nụ và bà Dương Thị X là bố, mẹ của anh Phan Đức K. Ông N, bà X có 11 người con, năm 1990 ông Phan Trọng N mất, năm 1993 anh trai đầu Phan Quang T mất, năm 1994 bà Dương Thị X mất. Khi ông N, bà X mất chưa để lại quyền thừa ế cho ai, thửa đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, lô đất của gia đình đã được thể hiện tại bản đồ 299 mang tên Phan Trọng N, bản đồ 371 mang tên Phan Trọng  (Phan Đức K), có tên trong sổ mục ê, sổ địa chính của UBND phường. Anh K sống từ nhỏ đến nay trên thửa đất đó. Năm 1991 đến 1993 anh K đi lính, năm 1995 đến 1998 đi trại cải tạo, từ năm 2001 anh K lấy vợ và sinh sống ổn định từ đó đến nay. Trước đ y, gia đình thuộc hộ nghèo nên hông phải nộp thuế, sau này phải nộp thuế nhưng hoảng 2 năm nay hông thấy thông b o của phường về việc nộp thuế đất.
Th ng 12/1992, bà Dương Thị X và anh Phan Quang T (đã chết) có chuyển nhượng cho ông Nguyễn Công N và bà Nguyễn Thị Kim T một phần đất có chiều rộng 5m, chiều dài 23m, tổng diện tích là 115m2 và 1 căn nhà cấp 4 đã trừ phần diện tích đất mở đường Lê Bình, nay là đường Nguyễn Công Trứ với chiều rộng 5m, dài 12m, tổng diện tích là 60m2 đất. Năm 1995 hi mẹ và anh trai mất, ông Nguyễn Công N đã làm đơn lên Tòa n thị xã Hà Tĩnh yêu cầu được quyền sở h u 60m2 đất nằm trong quy hoạch đường Nguyễn Công Trứ mà gia đình hông b n, ch b n căn nhà cấp 4. Gia đình vẫn sử dụng sinh hoạt buôn b n bình thường trên diện tích đất đó. Năm 1994, 1995 chị g i là Phan Thị Thương sử dụng buôn b n hàng ăn, sau đó đất để hông. Hiện vợ chồng anh K đang sinh sống, quản l phần đất, nhà cũ của bố mẹ là ông Phan Trọng N và bà Dương Thị X (trước đ y anh Phan Trọng Ân sinh sống). Năm 2013 vợ chồng anh K làm qu n b n hàng ăn, UBND phường T n Giang có lập biên bản x y dựng tr i phép trên đất đang quy hoạch nhưng hông thấy xử l . Năm 2016, anh K dựng lên i ốt bằng sắt làm inh doanh dịch vụ cầm đồ. Th ng 10/2018 xảy ra tranh chấp gi a anh K với gia đình bà T. Anh K cho rằng việc x y dựng i ốt là hợp ph p vì x y dựng trên phần đất của gia đình chưa b n cho bà T.Việc bà T yêu cầu đòi lại diện tích đất nói trên anh K hông đồng . Đề nghị Tòa n b c đơn hởi iện của nguyên đơn và anh cũng hông yêu cầu bà T phải bồi thường thiệt hại.
- Tại bản tự khai ngày 10/5/2019 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị Y trình bày:
Đất mà vợ chồng chị đang sinh sống là của cha mẹ gia đình chồng là ông Phan Trọng N, bà Dương Thị X để lại. Còn về i ốt x y dựng trên phần đất quy hoạch đường Nguyễn Công Trứ mà hiện nay hai gia đình đang tranh chấp là do vợ chồng bỏ tiền ra để x y dựng. Hiện vợ chồng đang làm dịch vụ cầm đồ tại i ốt. Do công việc nên chị hông thể đến Tòa n giải quyết được và ủy quyền cho chồng là ông Phan Đức K toàn quyền quyết định tại Tòa n đồng thời xin được vắng mặt trong qu trình giải quyết vụ n.
- Qua xác minh tại tổ trưởng tổ dân phố 4 và UBND phường Tân Giang, thành phố Hà Tĩnh:
Về nguồn gốc đất của gia đình ông Phan Trọng N và bà Dương Thị X thể hiện tại bản đồ 299, thửa đất số 901, tờ bản đồ số 01, mang tên Phan Trọng N, có điện tích 611m2. Tại bản đồ 731, thửa đất số 146, tờ bản đồ số 12, diện tích 439.5m2. Sổ mục ê mang tên Phan Trọng Ân và Nguyễn Thị T. Đất đã có trong sổ mục ê, sổ địa chính của phường. Về đất của hộ gia đình ông N và bà X hiện nay có 03 người con của ông, bà đang sinh sống trên mảnh đất đó. Ông Phan Đức Hòa ở phía sau gi p đường Hào Thành, ông Phan Đức Thuận ở gi a lô đất, còn ông Phan Đức K và Lê Thị Y thì ở phía trước mặt đường Nguyễn Công Trứ. Khi ông N, bà X chết có để lại di chúc, giấy tờ gì liên quan đến đất ông bà thì UBND phường hông nắm được. Tranh chấp gi a hai hộ gia đình này diễn ra từ l u, sau đó đã có bản n xét xử của Tòa n vào năm 1995. Tuy nhiên, do gia đình bà T hông yêu cầu thi hành n, hi có tranh chấp mới yêu cầu thì hết thời hiệu yêu cầu thi hành n. Ông K về sống trên ngôi nhà củ của bà X, ông N xây dựng i ốt buôn b n thì hai gia đình lại diễn ra tranh chấp. Phần đất đang tranh chấp là phần đất nằm trong phần diện tích 60m2 đất, chiều rộng 5m, chiều dài 12m tại bản n d n sự sơ thẩm số 04/1995/DSST của Tòa n nh n dân thị xã Hà Tĩnh (nay là Tòa n thành phố Hà Tĩnh). Qu trình m u thuẫn thì Ủy ban nh n dân phường T n Giang nhiều lần tiến hành hòa giải nhưng hông thành. Đề nghị Tòa n giải quyết theo quy định ph p luật.
- Kết quả xem xét, thẩm định tại chổ, kết quả đo vẽ, xác định:
Diện tích 60 m2 đất (chiều rộng 5m x chiều dài 12m) và ngôi nhà cấp 4 có diện tích 34 m2 tại bản n d n sự sơ thẩm số 04/1995/DSST ngày 16/6/1995 của Tòa án nhân dân thị xã Hà Tĩnh. Đo vẽ hiện nay, về đất: tính từ ch giới quy hoạch giải phóng mặt bằng giai đoạn 1 đường Nguyễn Công Trứ đến ch giới hành lang đường bộ 17.5m có diện tích 55.6 m2 đất (chiều rộng 5m x chiều dài cạnh gi p nhà ông K đang ở 10.94m2, chiều dài cạnh gi p ngõ vào nhà bà T 10.99m2), ông Phan Đức K đang sử dụng 16.1m2 đất để x y dựng i ốt và làm nơi để vật dụng, bà Nguyễn Thị Kim T đang quản l , sử dụng 39.5m2 đất để làm sân, lối đi ra đường Nguyễn Công Trứ và có gian nhà cấp 4 đã cũ mua lại của gia đình ông K. Trong diện tích 55.6m2 đất, có 3.7m2 đất (chiều rộng b m đường Nguyễn Công Trứ 5m x chiều dài cạnh đất phía Nam gi p nhà, đất ông K, dài 0.63m; chiều dài cạnh đất phía Bắc gi p ngõ vào gia đình bà T, dài 0.75m) là phần đất nằm trong ch giới của bản đồ 371, thuộc quyền quản l của Nhà nước nên hi thu hồi hông được bồi thường; Về nhà cấp 4 có diện tích x y dựng 34 m2 tại bản n d n sự năm 1995, đo vẽ hiện tại có diện tích x y dựng 25.1m2, bà Nguyễn Thị Kim T đang quản l , sử dụng 17.8m2 (là phần nhà x y cấp 4 cũ mua lại của gia đình ông K) làm nơi để vật dụng gia đình, ông Phan Đức K đang quản l , sử dụng 7.3m2 phần đổ via m i trước của ngôi nhà cấp 4, làm nơi để vật dụng gia đình. Ông Phan Đức K x y dựng thêm i ốt phía trước có diện tích 10.2m2. Trong tổng diện tích đất, diện tích x y dựng 17.5m2 ông K đang sử dụng, có 16.1m2 đất nằm trong phần diện tích đất 55.6 m2 (Do ông K x y dựng i ốt mở rộng sang cả phần đất gia đình). Theo ết quả định gi tài sản thì đất có gi 26.000.000đ/1m2.
Nội dung tranh chấp trên đã được giải quyết tại Bản n sơ thẩm số 03/2019/DSST ngày 29-11-2019 của Tòa n nh n dân thành phố Hà Tĩnh, t nh Hà Tĩnh: Căn cứ Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm c Khoản 1 Điều 39, Điều 68; Điều 147; Khoản 2 Điều 227, Khoản 2 Điều 228, Điều 271; hoản 1 Điều 273 và hoản 1 Điều 280, hoản 2 Điều 282 của Bộ luật tố tụng d n sự 2015;
Căn cứ c c Điều 256, Điều 265, Điều 266, Điều 267 của Bộ luật d n sự 2005; hoản 3 Điều 100 luật đất đai năm 2013;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản l và sử dụng n phí và lệ phí Tòa n, tuyên xử:
1. Xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Y, bà Phan Thị Thương, bà Phan Thị T Lương, ông Phan Trọng Ân (tên gọi h c Phan Văn T), bà Phan Thị Thành, bà Phan Thị Ái, ông Phan Minh Thuận, ông Phan Đức Hòa, bà Phan Thị Lệ Hằng, bà Phan Thị Thúy Nga, ông Phan Vương Hoài Vũ, ông Phan Vương Hoài Bảo.
2. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Bà Nguyễn Thị Kim T.
3. Buộc ông Phan Đức K trả lại cho bà Nguyễn Thị Kim T diện tích 16.1m2 đất, có chiều rộng phía trước là 2.79m (b m mặt đường Nguyễn Công Trứ), chiều rộng phía sau là 3.22m (tiếp gi p với gian nhà cấp bốn bà T mua của gia đình ông K, hiện bà đang sử dụng); chiều dài cạnh đất phía Bắc tiếp gi p với phần ngõ đi vào nhà bà T, tính từ ch giới mở đường Nguyễn Công Trứ giai đoạn 1 éo dài vào trong hành lang đường bộ 17.5m, dài 5.28m. Chiều dài cạnh đất phía Nam tiếp gi p với đất, nhà ông K đang sử dụng, tính từ ch giới mở đường Nguyễn Công Trứ giai đoạn 1 éo dài vào trong hành lang đường bộ 17.5m, là 5.41m. (Trong diện tích 16.1m2 đất, có diện tích 1.9m2 đất, là phần đất nằm trong ch giới của bản đồ 371, thuộc diện quản l của Nhà nước nên hi thu hồi hông được bồi thường). (Có sơ đồ èm theo)
4. Buộc ông Phan Đức K và bà Lê Thị Y phải th o dỡ diện tích x y dựng i ốt tr i phép trên phần 16.1m2 đất thuộc quyền quản l , sử dụng của bà Nguyễn Thị Kim T.
Ông Phan Đức K và bà Lê Thị Y phải tự thực hiện việc th o dỡ nêu trên ngay hi bản n của Tòa n có hiệu lực ph p luật. Trường hợp ông Phan Đức K và bà Lê Thị Y hông thực hiện việc th o dỡ nêu trên thì sẽ bị cưỡng chế theo quy định của ph p luật về Thi hành n d n sự và bà Nguyễn Thị Kim T có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành n d n sự có thẩm quyền giải quyết theo quy định ph p luật.
Ngoài ra, án còn tuyên lệ phí thẩm định tại chỗ, n phí và quyền h ng c o của c c đương sự.
Không đồng tình với bản n sơ thẩm, ngày 02/12/2019, bị đơn ông Phan Đức K h ng c o toàn bộ bản n sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn gi nguyên đơn hởi iện, bị đơn gi nguyên nội dung h ng c o, c c đương sự hông thống nhất được về nội dung giải quyết vụ n. Đại diện Viện iểm s t nh n dân t nh Hà Tĩnh sau hi nhận xét về việc tu n theo ph p luật của thẩm ph n chủ tọa, HĐXX, thư phiên tòa và đương sự đã đề nghị HĐXX hông chấp nhận nội dung h ng c o của bị đơn. Gi nguyên Bản n d n sự sơ thẩm số 03/2019/DS-ST ngày 29-11-2019 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, t nh Hà Tĩnh
Sau hi nghiên cứu c c tài liệu có tại hồ sơ vụ n được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ ết quả tranh luận tại phiên tòa,
NHẬN ĐỊNH
Về tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết vụ n: Tòa n nh n dân thành phố Hà Tĩnh, t nh Hà Tĩnh đã thụ l vụ n, x c định quan hệ tranh chấp, tư c ch tham gia tố tụng c c đương sự là tu n thủ đúng quy định tại Điều 26, điểm a hoản 1 Điều 35, điểm c hoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng d n sự. Sau hi xét xử sơ thẩm, ngày 02 th ng 12 năm 2019, bị đơn h ng c o đối với bản n DSST số 03/2019/DSST ngày 19-11-2019 của Tòa n nh n dân thành phố Hà Tĩnh, căn cứ điểm b hoản 1 Điều 38 Bộ luật tố tụng d n sự, vụ n thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa n nh n dân cấp t nh.
- Về thu thập tài liệu, chứng cứ làm căn cứ giải quyết vụ n: Trong qu trình giải quyết vụ n, Tòa n cấp sơ thẩm đã tiến hành x c minh, làm việc, yêu cầu c c đương sự giao nộp tài liệu, tiến hành mở phiên họp iểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công hai chứng cứ và hòa giải, thẩm định tại chỗ, định gi tài sản là thực hiện đúng quy định tại Điều 96, 97, 101, 104, 106 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xem xét nội dung h ng c o:
Về yêu cầu hởi iện của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim T yêu cầu bị đơn là ông Phan Đức K trả lại 16,1 m2 đất đang lấn chiếm và th o dỡ phần tài sản trên phần đất lấn chiếm.
Trên cơ sở việc x c định nguồn gốc đất, hồ sơ quản l nhà nước về đất đai, c c tài liệu, chứng cứ đương sự giao nộp và Tòa n tiến hành thu thập, ết quả thẩm định tại chỗ và định gi tài sản, Tòa n cấp sơ thẩm đã tuyên chấp nhận yêu cầu hởi iện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả lại đất và th o dỡ tài sản trên phần đất lấn chiếm. Tuy nhiên, bị đơn hông đồng với ph n quyết của cấp sơ thẩm, có đơn h ng c o toàn bộ bản n với l do bản n tuyên chưa h ch quan, chưa phù hợp quy định của ph p luật, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp ph p của gia đình.
Xem xét nội dung kháng cáo, cấp phúc thẩm thấy rằng:
Về nguồn gốc thửa đất: Thửa đất bà Nguyễn Thị Kim T đang sử dụng có nguồn gốc là của gia đình ông Phan Trọng N (chết năm 1990) và bà Dương Thị X (chết năm 1994), thể hiện tại bản đồ 299, thửa 109, tờ bản đồ số 01 có diện tích 611m2. Năm 1992, ông Nguyễn Công N và bà Nguyễn Thị Kim T nhận chuyển nhượng của bà Dương Thị X diện tích 115m2 (chiều dài 23m x chiều rộng 5m) và diện tích 60m2 (chiều rộng 5m x chiều dài 12m) cùng 01 ngôi nhà cấp 4 x y dựng trên diện tích 60m2, tứ cận: phía Bắc gi p nhà bà Phượng, phía Nam giáp nhà bà X, phía Đông gi p bờ sông cụt, phía T y gi p đường Nguyễn Công Trứ. Ngày 31/12/1992, Uỷ ban nh n dân thị xã Hà Tĩnh đã có Quyết định số 1603-QĐ/UB công nhận quyền sử dụng thửa đất trên cho bà Nguyễn Thị Kim T. Do phần đất 60 m2 nằm trong ch giới quy hoạch đường Nguyễn Công Trứ nên hông được ghi vào trong quyết định giao đất tại thời điểm đó. Đối với phần diện tích còn lại của ông Phan Trọng N và bà Dương Thị X hiện nay gia đình 03 người con của ông bà vẫn đang sử dụng đất, gồm: ông Phan Đức Hòa, ông Phan Đức Thuận, ông Phan Đức K.
Tranh chấp ph t sinh hởi nguồn từ việc gia đình ông K, bà Y về sinh sống tại nhà cũ của ông N, bà X trên phần đất 60m2 vì cho rằng phần đất này nằm trong ch giới an toàn giao thông nên cha mẹ không bán cho bà T.
Qu trình giải quyết tranh chấp: Tại bản n DSST số 04/1995/DSST ngày 16/6/1995 của Tòa n nh n dân thị xã Hà Tĩnh đã tuyên xử công nhận quyền sử dụng hợp ph p của bà Nguyễn Thị Kim T đối với phần diện tích 60m2. Bản n hông có h ng c o, h ng nghị và đã có hiệu lực ph p luật. Do đó, căn cứ điểm b hoản 1 Điều 92 Bộ luật Tố tụng d n sự thì đ y là tình tiết, sự iện hông phải chứng minh. Vì vậy, việc Tòa n nh n dân thành phố Hà Tĩnh căn cứ bản n DSST số 04/1995/DSST ngày 16/6/1995 của Tòa n thị xã Hà Tĩnh để thừa nhận quyền sử dụng hợp ph p của bà Nguyễn Thị Kim T đối với phần diện tích 60m2 là có cơ sở, đúng ph p luật.
Về x c định phần diện tích lấn chiếm trên thực tế: Năm 1992, bà Nguyễn Thị Kim T đã nhận chuyển nhượng của bà Dương Thị X ngoài diện tích 115m2 còn có 60m2 và một ngôi nhà cấp 4. Đối với phần diện tích 115m2 không có tranh chấp nên miễn xét. Đối với phần diện tích 60m2 hiện đo đạc ch còn 55,6m2 (trong đó chiều rộng 5m, chiều dài cạnh giáp nhà ông K là 10,94m, cạnh giáp ngõ vào nhà bà T là 10,99m và có phần diện tích 3,7m2 nằm trong ch giới của bản đồ 371, thuộc quyền quản l của nhà nước). Bà T đồng với phần diện tích đã được x c định như trên. Trên phần diện tích này, bà T đang sử dụng 39,5m2 làm sân và lối đi ra đường Nguyễn Công Trứ, một phần gian nhà cấp 4 đã cũ mua lại của bà X với diện tích 17,8m2 làm nơi để vật dụng gia đình; ông K đang sử dụng 16,1m2 để x y dựng i ốt và làm nơi để vật dụng, một phần ngôi nhà cấp 4 có diện tích 7,3m2 (phần đổ via m i trước của ngôi nhà cấp 4) làm nơi để vật dụng gia đình. Đối với ngôi nhà cấp 4, theo bản n DSST số 04 năm 1995 có diện tích 34m2, tuy nhiên theo đo đạc hiện nay thì ngôi nhà có diện tích 25,1m2 (bà T sử dụng 17,8m2, ông K sử dụng 7,3m2). Như vậy, có căn cứ để x c định trong phần diện tích 55,6m2 bà T được quyền sử dụng thì ông K đang lấn chiếm 16,1m2. Tòa n cấp sơ thẩm buộc ông K phải trả lại phần diện tích này cho bà T là có căn cứ.
Đối với yêu cầu buộc bị đơn th o dỡ toàn bộ tài sản trên phần diện tích lấn chiếm: Kết quả thẩm định tại chỗ do Tòa n cấp sơ thẩm thực hiện cho thấy, hiện nay, phần đất ông K sử dụng làm i ốt có diện tích 17,5m2 trong đó 7,3m2 là phần via của ngôi nhà cấp 4 và 10,2m2 là phần i ốt phía trước. Kết quả đo đạc thể hiện trong tổng diện tích 17,5m2, ông K đã lấn chiếm của bà T là 16,1m2. Cụ thể: chiều rộng phía trước là 2.79m (b m mặt đường Nguyễn Công Trứ), chiều rộng phía sau là 3.22m (tiếp gi p với gian nhà cấp bốn bà T mua của gia đình ông K, hiện bà đang sử dụng); chiều dài cạnh đất phía Bắc tiếp gi p với phần ngõ đi vào nhà bà T, tính từ ch giới mở đường Nguyễn Công Trứ giai đoạn 1 éo dài vào trong hành lang đường bộ 17.5m, dài 5.28m. Chiều dài cạnh đất phía Nam tiếp gi p với đất, nhà ông K đang sử dụng, tính từ ch giới mở đường Nguyễn Công Trứ giai đoạn 1 éo dài vào trong hành lang đường bộ 17.5m, là 5.41m. (Trong diện tích 16.1m2 đất, có diện tích 1.9m2 đất, là phần đất nằm trong ch giới của bản đồ 371, thuộc diện quản l của Nhà nước nên hi thu hồi hông được bồi thường). Do đó, cấp sơ thẩm buộc bị đơn phải dời dọn tài sản, vật dụng đang để trong phần diện tích 7,3m2 để trả lại phần via ngôi nhà cấp 4 cho bà T; tự th o dỡ phần diện tích 10,2m2 x y dựng i ốt là phù hợp.
Từ c c vấn đề nêu trên, cấp phúc thẩm thấy rằng, bản n sơ thẩm đã nghiên cứu, đ nh gi , xem xét, thu thập tài liệu, chứng cứ đầy đủ và giải quyết vụ n h ch quan, toàn diện, đúng ph p luật. Vì vậy, hông có căn cứ để chấp nhận nội dung h ng c o của bị đơn, gi nguyên ph n quyết của Tòa n cấp sơ thẩm như quan điểm của đại diện Viện iểm s t nh n dân t nh Hà Tĩnh tại phiên tòa là phù hợp, có căn cứ.
Về n phí: ông Phan Đức K phải chịu n phí phúc thẩm theo quy định của ph p luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 39, 48, 68, 148, 307, 313, 315 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Bác toàn bộ nội dung h ng c o của bị đơn ông Phan Đức K, gi nguyên quyết định của bản n sơ thẩm số 03/2019/DSST ngày 29-11-2019 của Tòa n nh n dân thành phố Hà Tĩnh, t nh Hà Tĩnh.
2. Áp dụng c c Điều 256, Điều 265, Điều 266, Điều 267 của Bộ luật d n sự 2005; hoản 3 Điều 100 luật đất đai năm 2013; hoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản l và sử dụng n phí và lệ phí Tòa n, tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim T.
- Buộc ông Phan Đức K trả lại cho bà Nguyễn Thị Kim T diện tích 16.1m2 đất, có chiều rộng phía trước là 2.79m (b m mặt đường Nguyễn Công Trứ), chiều rộng phía sau là 3.22m (tiếp gi p với gian nhà cấp bốn bà T mua của gia đình ông K, hiện bà T đang sử dụng); chiều dài cạnh đất phía Bắc tiếp gi p với phần ngõ đi vào nhà bà T, tính từ ch giới mở đường Nguyễn Công Trứ giai đoạn 1 éo dài vào trong hành lang đường bộ 17.5m, dài 5.28m. Chiều dài cạnh đất phía Nam tiếp gi p với đất, nhà ông K đang sử dụng, tính từ ch giới mở đường Nguyễn Công Trứ giai đoạn 1 éo dài vào trong hành lang đường bộ 17.5m, là 5.41m. (Trong diện tích 16.1m2 đất, có diện tích 1.9m2 đất, là phần đất nằm trong ch giới của bản đồ 371, thuộc diện quản l của Nhà nước nên hi thu hồi hông được bồi thường).
(Có sơ đồ kèm theo bản án)
- Buộc ông Phan Đức K và bà Lê Thị Y phải th o dỡ diện tích x y dựng i ốt tr i phép trên phần 16.1m2 đất thuộc quyền quản l , sử dụng của bà Nguyễn Thị Kim T. Phải dời dọn tài sản, vật dụng trong phần diện tích 7,3m2 để trả lại phần via ngôi nhà cấp 4 cho bà T; tự th o giỡ phần diện tích 10,2m2 ông K x y dựng i ốt.
- Ông Phan Đức K và bà Lê Thị Y phải tự thực hiện việc th o dỡ nêu trên ngay hi bản n của Tòa n có hiệu lực ph p luật. Trường hợp ông Phan Đức K và bà Lê Thị Y hông thực hiện việc th o dỡ nêu trên thì sẽ bị cưỡng chế theo quy định của ph p luật về Thi hành n d n sự và bà Nguyễn Thị Kim T có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành n d n sự có thẩm quyền giải quyết theo quy định ph p luật.
3. Về n phí: Buộc ông Phan Đức K phải chịu 300.000 đồng n phí d n sự phúc thẩm, được hấu trừ số tiền tạm ứng n phí phúc thẩm đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hà Tĩnh theo biên lai số 0001343 ngày 20/12/2019.
“Bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
4. C c quyết định h c của bản n sơ thẩm hông có h ng c o, hông bị h ng nghị đã có hiệu lực ph p luật, ể từ ngày hết thời hạn h ng c o, h ng nghị.
Bản n phúc thẩm có hiệu lực ph p luật ể từ ngày tuyên n.
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao tại Hà Nội; - VKSND t nh Hà Tĩnh; - TAND, VKS, THA sơ thẩm; - Đương sự; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hồng Hải |