vanban.org

Bản án 03/2019/KDTM-PT — Tranh chấp về mua bán hàng hóa

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/04/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Hủy bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 06/2018/KDTM-ST ngày 30 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Về án phí: Hoàn lại Công ty T 2.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, theo biên lai thu số 16194 ngày 10/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Tiền Giang. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Công ty Q - Công ty T"
  • Tòa quyết gì? Hủy bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 06/2018/KDTM-ST ngày 30 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2019/KDTM-PT
Ngày: 25/4/2019
V/v tranh chấp: “Hợp đồng mua bán
hàng hóa”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Hiếu

Các Thẩm phán:

Ông Trần Văn Đạt

Bà Trần Thị Thu Hằng

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Lê Lộc – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Hòa – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 19 và 25 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 06/2019/TLPT-KDTM ngày 19 tháng 3 năm 2019 về việc tranh chấp: “Hợp đồng mua bán hàng hóa”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 06/2018/KDTM-ST ngày 30 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2019/QĐ-PT ngày 25 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty Q;

Địa chỉ: Đường H, phường C, Quận A, Thành phố H.

Người đại diện theo pháp luật: Phùng Đức M– Chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Nguyễn Đức L, sinh năm 1977; (Có mặt)

Địa chỉ: Đường L, Phường H, Quận E, Thành phố H.

Địa chỉ liên lạc: Đường H, phường B, Quận A, Thành phố H.

(Theo văn bản ủy quyền ngày 20/6/2018)

- Bị đơn: Công ty T;

Địa chỉ: Tổ C, Ấp Y, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Người đại diện theo pháp luật: Lê Bá H – Chức vụ: Giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Dương Mỹ L1, sinh năm 1988; (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh T.

- Người kháng cáo: Bị đơn – Công ty T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo án sơ thẩm,

Nguyên đơn – Công ty Q có đại diện theo ủy quyền – ông Nguyễn Đức L trình bày:

Ngày 22/3/2017 tại Công ty T, Công ty Q (gọi tắt là Công ty GE) và Công ty T (gọi tắt là Công ty T) thực hiện ký kết hợp đồng mua bán cây Đinh lăng giống số: 03/2017/HĐMB, số lượng 200.000 cây, đơn giá 4.000 đồng/01 cây, thành tiền 800.000.000 đồng. Theo điều 1 của hợp đồng có nêu quy cách: Cây Đinh lăng con cao khoảng 15-20 cm (Tính từ mặt bầu), vô bầu nhựa, sinh trưởng và phát trển tốt, tỉ lệ sống đảm bảo 80% trở lên như cam kết Công ty T. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty T đã vi phạm hợp đồng, cụ thể là giao cây không đúng theo từng đợt và số lượng, không hướng dẫn kỹ thuật và chăm sóc cây trồng để cây chết đến hơn 95%. Do đó, Công ty GE yêu cầu Công ty T bồi thường thiệt hại cho Công ty GE số tiền 800.000.000 đồng theo quy định tại Điều 5 của hợp đồng số 03/2017/HĐMB ngày 22/3/2017. Công ty GE không đồng ý với yêu cầu phản tố của Công ty T, bởi vì biên bản làm việc ngày 28/7/2017 không có giá trị do những người của Công ty không có thẩm quyền và không được ủy quyền giải quyết thanh lý hợp đồng, hơn nữa biên bản không có con dấu của cả hai Công ty.

Bị đơn – Công ty T có người đại diện theo pháp luật – ông Lê Bá H trình bày:

Ngày 22/3/2017, Công ty T và Công ty Q có ký kết hợp đồng mua bán cây Đinh lăng giống số: 03/2017/HĐMB với nội dung như đã nêu trong hợp đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty T đã giao cho Công ty GE tổng cộng là 96.000 cây. Đợt 01 Công ty T giao 50.000 cây với số tiền thanh toán là 200.000.000 đồng, đợt 02 giao 46.000 cây với số tiền thanh toán là 184.000.000 đồng, tổng hai đợt sẽ thanh toán 384.000.000 đồng. Công ty T chấp nhận số lượng đền bù đợt 02 là 22.670 cây tương đương số tiền là 90.680.000 đồng. Như vậy Công ty GE cần phải thanh toán cho Công ty T số tiền 293.320.000 đồng, Công ty GE đã thanh toán cho Công ty T số tiền 180.000.000 đồng nên còn nợ Công ty T số tiền 113.320.000 đồng theo biên bản làm việc ngày 28/7/2017. Do đó, đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty GE thì Công ty T không đồng ý vì không có vi phạm hợp đồng. Bởi vì theo biên bản làm việc ngày 28/7/2017 có nêu đợt giao cây giống lần 01 ngày 10/4/2017 chất lượng cây giống đạt chuẩn. Từ khi gieo trồng đến giờ cây sống khoảng hơn 40.000 cây, tỉ lệ sống cho đến hiện tại còn khoảng 4.000 đến 5.000 cây. Tuy nhiên Công ty GE không yêu cầu Công ty T đền bù cây đã chết. Công ty T chỉ đảm bảo tỉ lệ sống 80% trở lên trong vòng 10 ngày đầu và hỗ trợ kiểm tra về mặt kỹ thuật theo qui định tại Điều 4 của Hợp đồng số 03/2017/HĐMB. Nay Công ty T yêu cầu phản tố buộc Công ty GE phải thanh toán số tiền 113.320.000 đồng.

Tại bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 06/2018/KDTM-ST ngày 30 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 357, 468 Bộ luật Dân sự; Điều 24, 302, 303 Luật Thương mại; Điều 157, 162 Luật Doanh nghiệp; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016. Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Q đối với Công ty T.

Buộc Công ty T bồi thường cho Công ty Q số tiền 800.000.000 đồng, thời gian bồi thường sau khi án có hiệu lực pháp luật.

2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty T đòi Công ty Q thanh toán số tiền 113.320.000 đồng.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, nghĩa vụ chậm thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 03/12/2018, bị đơn – Công ty T có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết sửa toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty T và bác yêu cầu khởi kiện của Công ty Q.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện Kiểm sát phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng chấp hành đúng pháp luật. Về nội dung vụ án, theo Hợp đồng mua bán cây Đinh lăng giống giữa Công ty T (Công ty T) và Công ty Q (Công ty GE) Công ty T đã giao cho Công ty Q từ ngày 10/4/2017 đến ngày 11/5/2017 số lượng 96.000 cây Đinh lăng giống. Trong hồ sơ vụ án có 02 biên bản do Công ty T lập cùng với những người của Công ty GE, trong đó Biên bản ngày 09/6/2017 là biên bản nghiệm thu xác định số cây giống giao đợt 1 (10/4/2017) là 50.000 cây, cây sống tại dự án 23.910 cây; số cây chết 26.090 cây. Số cây giao đợt 2 (11/5/2017) là 46.000 cây, cây sống tại dự án 30.220 cây, số cây chết 15.780 cây. Tổng cộng 02 đợt cây sống tại dự án là 54.130 cây, cây chết là 41.870 cây, biên bản này do Công ty GE cung cấp cho Tòa án, nhưng biên bản xác nhận công nợ ngày 28/7/2017 xem như hai bên thanh lý hợp đồng, nhằm giảm thiểu thiệt hại cho các bên, nhưng không được bên Công ty GE thừa nhận. Án sơ thẩm cho rằng bị đơn có lỗi là chưa phù hợp, xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn bồi thường 800.000.000 đồng là chưa đủ căn cứ, vì chưa thu thập đầy đủ chứng cứ chứng minh thiệt hại xảy ra đối với nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án vế cấp sơ thẩm xét xử lại vụ án.

Qua nghiên cứu toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm. Ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Án sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật của vụ án là tranh chấp “Hợp đồng mua bán hàng hóa” là có căn cứ.

Về nội dung: Theo hợp đồng mua bán số 03/2017/HĐMB ngày 22/3/2017 của Công ty T (Gọi tắt là Công ty T) (Bên A) với Công ty Q (Gọi tắt là Công ty GE) (Bên B), thực hiện ký kết hợp đồng mua bán cây Đinh lăng giống số lượng 200.000 cây, đơn giá 4.000 đồng/01 cây, thành tiền 800.000.000 đồng.

Tại Điều 1 của hợp đồng có nêu quy cách: Cây Đinh lăng con cao khoảng 15-20 cm (Tính từ mặt bầu), vô bầu nhựa, sinh trưởng và phát triển tốt, tỉ lệ sống đảm bảo 80% trở lên như cam kết Công ty T. Theo trình bày của Công ty GE thì trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty T đã vi phạm hợp đồng, cụ thể là giao cây không đúng theo từng đợt và số lượng, không hướng dẫn kỹ thuật và chăm sóc cây trồng để cây chết đến hơn 95%. Do đó, Công ty GE yêu cầu Công ty T bồi thường thiệt hại cho Công ty GE số tiền 800.000.000 đồng theo quy định tại Điều 5 của hợp đồng số 03/2017/HĐMB ngày 22/3/2017.

Công ty GE không đồng ý với yêu cầu phản tố của Công ty T, bởi vì biên bản làm việc ngày 28/7/2017 không có giá trị do những người của Công ty GE không có thẩm quyền và không được ủy quyền giải quyết thanh lý hợp đồng, hơn nữa biên bản không có con dấu của cả hai Công ty.

Công ty T không đồng ý yêu cầu khởi kiện của Công ty GE. Công ty T cho rằng thực hiện Hợp đồng số 03/2017/HĐMB ngày 22/3/2017 Công ty T đã giao Công ty GE 02 đợt là 96.000 cây, tổng 02 đợt phải thanh toán là 384.000.000 đồng. Công ty T chấp nhận số lượng đền bù đợt 02 là 22.670 cây, tương đương số tiền là 90.680.000 đồng. Như vậy Công ty GE cần phải thanh toán cho Công ty T số tiền 293.320.000 đồng, Công ty GE đã thanh toán cho Công ty T số tiền 180.000.000 đồng, nên còn nợ Công ty T số tiền 113.320.000 đồng theo biên bản làm việc ngày 28/7/2017. Công ty T có yêu cầu phản tố yêu cầu Công ty GE phải thanh toán số tiền 113.320.000 đồng.

Xét việc thực hiện Hợp đồng mua bán cây Đinh lăng giống số 03/2017/HĐMB ngày 22/3/2017 giữa Công ty T (Bên A) và Công ty GE (Bên B) tại Điều 1 ghi: “Bên A bán cho bên B cây giống Đinh lăng, chi tiết như sau:

Chủng loại cây Đinh lăng con; Số lượng (cây): 200.000; Đơn giá (Đ/cây): 4.000; Thành tiền 800.000.000 đồng.

- Qui cách: Cây Đinh lăng con cao khoảng 15 - 20cm (tính từ mặt bầu), vô bầu nhựa, sinh trưởng và phát triển tốt, tỉ lệ sống đảm bảo 80% trở lên”

Tại Điều 2 của Hợp đồng nêu rõ trách nhiệm của bên bán là Công ty T (Bên A) về việc: “... Hướng dẫn kỹ thuật và chăm sóc giống cây trồng hiện hành”.

Điều 4: Đảm bảo chất lượng

- Sau mỗi đợt giao hàng 10 ngày, hai bên cử người đi kiểm tra thực tế số hàng đã giao - nhận để làm cơ sở tính toán số lượng hao hụt.

- Nếu số lượng hao hụt lớn hơn 20% thì bên A phải bù cho bên B vào đợt giao hàng tiếp theo. {Số lượng bù bằng với % hao hụt trong tỉ lệ sống đảm bảo}.

Theo quy định về thời gian giao nhận tại Điều 3 của Hợp đồng thì mỗi đợt giao nhận cây Đinh lăng giống cách nhau 30 ngày. Căn cứ theo hợp đồng các bên đương sự trình bày thống nhất lần 1 giao cây Đinh lăng vào ngày 10/4/2017 số lượng 50.000 cây, lần 2 giao ngày 11/5/2017 số lượng 46.000 cây. Lần 3 và lần 4 vào tháng 6 và tháng 7/2017 thì bên A không có giao cây Đinh lăng cho bên B như thỏa thuận.

Sau 02 đợt Công ty T giao cho Công ty GE số cây giống là 96.000 cây.

Theo Biên bản ngày 09/6/2017 (BL 18) ghi biên bản nghiệm thu, xác định số cây giống giao đợt 1 (10/4/2017) là 50.000 cây, cây sống tại dự án 23.910 cây; số cây chết 26.090 cây. Số cây giao đợt 2 (11/5/2017) là 46.000 cây, cây sống tại dự án 30.220 cây, số cây chết 15.780 cây. Tổng cộng 02 đợt cây sống tại dự án là 54.130 cây, cây chết là 41.870 cây, biên bản này do Công ty GE cung cấp cho Tòa án.

Biên bản làm việc ngày 28/7/2017 (BL 40), theo trình bày của Công ty T xem như hai bên thanh lý hợp đồng, Công ty GE còn nợ lại tiền thanh toán cây Đinh lăng giống là 113.320.000 đồng, nhưng không được bên nguyên đơn là Công ty GE thừa nhận vì thành phần những người làm việc bên Công ty GE không có thẩm quyền giải quyết thanh lý hợp đồng, hơn nữa biên bản không có con dấu của cả hai Công ty.

Tại biên bản sự việc ngày 08/82017 có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Quảng Thành, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thì cây đã chết hơn 95%.

Căn cứ chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định có việc không đảm bảo chất lượng cây giống theo quy định tại Điều 1 của Hợp đồng là cây Đinh lăng “… sinh trưởng và phát triển tốt, tỉ lệ sống đảm bảo 80% trở lên”

Lỗi vi phạm hợp đồng thuộc về Công ty T, Công ty T vi phạm Điều 1, Điều 2 và Điều 4 của Hợp đồng, đã khômg bảo đảm cây sống trên 80% trở lên, do không thực hiện nghĩa vụ Hướng dẫn kỹ thuật và chăm sóc giống cây trồng hiện hành, nên có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại cho Công ty GE theo quy định tại Điều 302 Luật thương mại (Do thiệt hại thực tế xảy ra), vì Công ty GE đã mua 96.000 cây Đinh lăng giống, có đầu tư trang thiết bị tưới tiêu và thuê nhân công trồng và chăm sóc cây Đinh lăng.

Án sơ thẩm nhận định cho rằng Công ty T vi phạm tại Điều 5 của Hợp đồng nên phải bồi thường số tiền 800.000.000 đồng cho Công ty GE là chưa đủ căn cứ. Vì qua nghiên cứu Điều 5 của Hợp đồng thể hiện việc hai bên đương sự thỏa thuận phạt vi phạm hợp đồng chứ không phải bồi thường thiệt hại, không phù hợp quy định của pháp luật.

Để đảm bảo hai cấp xét xử, cần phải tiến hành định giá tài sản bị thiệt hại, trong đó có hệ thống máy móc tưới tiêu và tiền công thuê mướn lao động của Công ty GE thực hiện dự án trồng cây Đinh lăng theo Hợp đồng số 03/2017/HĐMB ngày 22/3/2017, đưa những người của Công ty GE trong biên bản ngày 9/6/2017 và ngày 28/7/2017 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để xem xét giải quyết vụ án. Cấp phúc thẩm không thể khắc phục được thiếu sót của cấp sơ thẩm, nên cần hủy án sơ thẩm. Giao hồ sơ vụ án về cấp sơ thẩm xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm.

Do án sơ thẩm bị hủy nên chưa xem xét yêu cầu kháng cáo của Công ty T.

Xét ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm có một phần phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử về việc thu thập chứng cứ xác định thiệt hại của Công ty GE, nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát.

Các đương sự không phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Hủy bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 06/2018/KDTM-ST ngày 30 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang. Chuyển hồ sơ vụ án về Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

2. Về án phí: Hoàn lại Công ty T 2.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, theo biên lai thu số 16194 ngày 10/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ