- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn L - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Căn cứ và o khoản 2 Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, Qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2019/HSST Ngày 16-01-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬ N HỒ NG BÀ NG, THÀNH PHỐ HẢ I PHÒ NG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễ n Thị Thu Huyề n;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Trọng Liêm;
Ông Nguyễn Anh Đức.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễ n Thị Cẩ m Vân - Thư ký Toà án của Toà án nhân dân quậ n Hồ ng Bà ng, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quậ n Hồ ng Bà ng tham gia phiên tòa : Ông Trần Hùng Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2019 tại trụ sở Toà á n nhân dân quậ n Hồ ng Bang, thành̀ phố Hả i Phò ng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm
thụ lý số : 05/2018/TLST-HS ngày07 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2019/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2019, đối với bị cáo:
Trần Văn L, sinh năm 1966, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Xã ĐT, huyện TL, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 06/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việ t Nam; con ông Trần Văn D (đã chết) và bà Phạm Thị M (đã chết); có vợ là chị Nguyễn Thị H (đã chết); có 02 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 2002; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị tạm giữ từ ngày 16-9-2018, được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21-9-2018; có mặt.
- Bị hại: Ông Đỗ Tiến N, sinh năm 1968; địa chỉ: Xã LH, huyện VB, thành phố Hải phòng; có mặt.
- Người làm chứng:
1. Ông Trần Văn T; vắng mặt.
2. Ông Bùi Văn Đ; vắng mặt.
3. Ông Trần Mạnh H; vắng mặt.
4. Ông Trần Xuân N; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 14-7-2018, Trần Văn L đi xe ôm từ TL, Hải Phòng đến gần công trường xây dựng trường Mầm non BĐ, phường SD, quận HB với mục đích chiếm đoạt tài sản. Lược ngồi ở quán nước gần cổng trường, khi thấy ông Đỗ Tiến N cùng công nhân trong công trường đi ăn cơm trưa, L đi bộ vào phòng của ông N, thấy xe mô tô Wave S Biển kiểm soát: 16N7-... dựng trong phòng, nên đã dùng chìa khóa chuẩn bị từ trước mở khóa và điều khiển xe về nhà.
Ngày 16-9-2018, Trần Văn L đến Cơ quan công an đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau: L và ông N là công nhân làm việc tại công trường xây dựng trường Mầm non BĐ. Ngày 12-7-2018, L mượn xe mô tô trên của ông N và đánh 01 bộ chìa khóa xe khác (gồm 01 khóa cổ, 01 khóa càng) với mục đích lấy chiếc xe. Sau khi lấy được chiếc xe trên, L biết bị Công an triệu tập nên đã nhờ con trai là Trần Mạnh H trả lại chiếc xe mô tô trên cho ông N vào ngày 14-9-2018.
Tại Kết luận định giá tài sản ngày 19-8-2018 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự, Ủy ban nhân dân quận Hồng Bàng kết luận: Xe mô tô Wave S, màu đỏ đen, Biển kiểm soát: 16N7-..., số khung 12089Y024..., số máy C12E-1545..., chất lượng còn khoảng 60%, trị giá 12.000.000 đồng.
Tại Cáo trạng số: 70/CT-VKS-HB ngày 29-11-2018 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Trần Văn L về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự;
Tại phiên toà, bị cáo Trần Văn L khai nhậ n toàn bộ hành vi đã nêu trên. Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 14-7-2018, Trần Văn L đã lợi dụng sở hở, lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô Wave S biển kiểm soát: 16N7-... của ông N.
Tại phiên tòa, người bị hại, ông Đỗ Tiến N xác nhận đã nhận lại tài sản, nên không có ý kiến gì về việc bồi thường và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo Trần Văn L.
Tại phiên toà , đạ i diệ n Việ n kiể m sá t nhân dân quậ n Hồ ng Bà ng giữ nguyên
cáo trạng, quyế t đị nh truy tố bị cáo Trần Văn L về tội Trộm cắp tài sản và đề nghị Hộ i đồ ng xé t xử : Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạ t bị cáo Trần Văn L từ 12 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo , thời hạn thử thách từ 24 tháng đến 36 tháng. Miễn á p dụng hình phạt bổ sung đối với Trần Văn L. Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tài liệu, chứng cứ Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên thu thập; bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.
Về hà nh vi , quyế t đị nh tố tụ ng củ a Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trì nh điề u tra, truy tố đã thự c hiệ n đú ng quy đị nh của Bộ luậ t Tố tụ ng hình sự. Tại giai đoạn điều tra, truy tố và tạ i phiên toà , bị cáo và người tham gia tố tụng khác không khiế u nạ i về hà nh vi , quyế t đị nh các cơ quan ti ến hành tố tụng , người tiền hành tố tụng như nêu trên. Do đó , các hành vi, quyế t đị nh tố tụ ng của các cơ quan tiế n hà nh tố tụ ng, ngườ i tiế n hà nh tố tụ ng đã thự c hiệ n đề u hợ p phá p.
Về chứng cứ xác định bị cáo có tội: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn L đã khai nhận việc lợi dụng sơ hở khi bị hại đi ăn trưa, bị cáo đã lé n lú t dùng chìa khóa đã chuẩn bị từ trước chiế m đoạ t tà i sả n như nộ i dung Cá o trạ ng đã truy tố. Lời khai của bị cáo còn được chứng minh bởi Biên bản ghi lời khai của bị hạ i, Biên bả n ghi lờ i khai củ a người làm chứng; Kết luận định giá tài sản; phù hợp với vật chứng; phù hợp với các chứ ng cứ và cá c tà i liệ u khá c có trong hồ sơ vụ á n, nên đã có đủ cơ sở kế t luậ n: Bị cáo Trần Văn L có hành vi lợi dụng sơ hở, lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại có giá trị 12.000.000 đồng. Như vậy, hành vi này đã đủ yế u tố cấ u thà nh tộ iTrộm cắp tài sản. Vì vậy, Việ n kiể m sá t nhân dân quậ n Hồ ng Bà ng truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có cơ sở.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của người khác và gây mất trật tự trị an chung. Vì vậy, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là cần thiết.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tì nh tiế t tăng nặ ng trá ch nhiệ m hì nh sự .
Về nhân thân và tì nh tiế t giả m nhẹ trá ch nhiệ m hì nh sư: Bị cáo đã tự nguyệṇ trả lại xe mô tô trên cho bị hại, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tự nguyện khắc phục hậu quả quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiệm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngày 16-9-2018, bị cáo đã đến Cơ quan Công an đầu thú và bị hại đã xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Trần Văn L, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá về áp dụng hình phạt như sau: Bị cáo L là người có nhân thân tốt, luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, tính chất, mức độ phạm tội của Lược thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù. Bởi vậy, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quậ n Hồ ng Bà ng cho bị cáo L được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự là phù hợp với quy định hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng, không có việc làm, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không phạt tiền đối với bị cáo theo qui định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, ông Đỗ Tiến N đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì về việc bồi thường, nên Hộ i đồ ng xé t xử không xem xé t vấ n đề bồi thường.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Trần Văn L 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã ĐT, huyện TL, thành phố Hải Phòng để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo được hưởng án treo có trách nhiệm kết hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trườ ng hợ p bị cá o thay đổ i nơi cư trú thì thự c hiệ n theo quy đị nh tạ i khoả n 1 Điề u 69 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã được hưởng án treo.
Căn cứ và o khoản 2 Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, Qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cá o, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hải Phòng; - VKSND thà nh phố Hả i Phò ng; - Công an thành phố Hải Phòng; - Sở tư pháp thành phố Hải Phòng; - VKSND quận Hồng Bàng; - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú; - CQTHS hình sự; - Chi cục THA Dân sự; - Bị cáo; bị hại; - Lưu: VT, hồ sơ vụ á n. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Huyền |