- Tranh chấp gì? án hình sự — "Le Thanh Ch - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Thanh Ch phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2019/HSST Ngày: 25 - 01 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đào Anh Đức.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lưu Đình Tâm
2. Bà Nguyễn Thị Hà
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Hùng - Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 59/2018/HSST, ngày 19 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Lê Thanh Ch; sinh ngày 03/3/1991; tại: Thạch Đồng, Thạch Thành, Thanh Hoá; nơi ĐKHKTT: Thôn Cự Môn, xã Thạch Đồng, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá; nơi cư trú: Thôn Cự Môn, xã Thạch Đồng, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Thanh Ch và bà Phạm Thị Ng (Đều đã chết); tiền án: Không; tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/11/2018 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Anh Nguyễn Văn S; sinh năm 1973; nơi cư trú: Thôn Hoàng Thành, xã Thành Hưng, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa; có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng: Anh Mai Văn Th; sinh năm 1985; nơi cư trú: Tiểu khu 2, thị trấn Hà Trung, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Vào khoảng 12 giờ ngày 27/10/2018, Lê Thanh Ch đi bộ qua Nhà văn hóa khu 1, thị trấn Kim Tân, nhìn thấy trong nhà văn hóa đang tổ chức đám cưới, ngoài cổng có dựng nhiều xe mô tô, không có người trông coi. Ch nảy sinh ý định trộm cắp xe bán lấy tiền tiêu sài nên đi lại khu vực dựng xe, dùng chìa khóa mang theo người trước đó, mở khóa điện chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu xanh, biển kiểm soát 36H9-3687 đang dựng sát tường rào nhà văn hóa, nổ máy, điều khiển xe đi thẳng xuống thị trấn Hà Trung, đến quán sửa chữa xe máy của anh Mai Văn Th gạ bán chiếc xe, nhưng anh Th không mua mà gọi điện cho một người đàn ông đến mua xe. Sau đó, người đàn ông này và Ch đi lên khu vực cầu Lèn giao dịch mua bán xe. Tại đây, Ch đã bán chiếc xe cho người đàn ông với giá 500.000 đồng. Số tiền này, Ch khai đã mua ma túy sử dụng và tiêu sài cá nhân hết. Đến ngày 04/11/2018, Ch đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạch Thành đầu thú, khai báo về hành vi trộm cắp và tiêu thụ tài sản trộm cắp như đã nêu trên.
Kết luận về việc định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 55/HĐĐGTS-TT ngày 08/11/2018, chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wawe Alpha màu xanh, biển kiểm soát 36H9 - 3687, tại thời điểm bị chiếm đoạt trị giá 4.500.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 03/Ctr-VKS-SH, ngày 17/12/2018, Viện Kiểm sát nhân dân (Sau đây viết tắt là VKSND) huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố Lê Thanh Ch về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ Luật hình sự (Sau đây viết tắt là BLHS).
Tại phiên tòa, đại diện VKSND giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt Lê Thanh Ch từ 07 tháng đến 10 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (Ngày 04/11/2018).
Kết quả xác minh về tài sản thu nhập, xác định hiện tại bị cáo không có tài sản gì nên đại diện Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường, đại diện Viện kiểm sát đề nghị không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha, màu sơn xanh, xe không có biển kiểm soát;
- 01 chiếc chìa khóa xe mô tô, trên chìa khóa có ghi số 623;
- 01 chiếc chìa khóa bằng kim loại màu trắng, có vòng tròn kim loại nối với đầu chìa khóa, một mặt ghi chữ “HANOI”, một mặt ghi chữ “LUUMY”.
Sau khi tiến hành định giá tài sản, xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô cho anh Nguyễn Văn S là chủ sở hữu hợp pháp tài sản nên đại diện Viện kiểm sát không đề cập xử lý. Riêng hai chiếc chìa khóa nêu trên, đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự (Sau đây viết tắt là BLTTHS), tuyên tịch thu tiêu hủy.
Đối với anh Mai Văn Th, quá trình điều tra đã xác định, khi giới thiệu cho Ch bán xe và nhận sửa chữa chiếc xe của người đàn ông đã mua xe của Ch, anh Th không biết chiếc xe là tài sản trộm cắp nên hành vi của anh Th không vi phạm pháp luật.
Về người đàn ông đã mua xe mô tô do Lê Thanh Ch đem bán, bị cáo và người làm chứng Th khai không biết danh tính, địa chỉ của người này nên không có căn cứ để điều tra mở rộng vụ án.
Bị cáo Ch khai nhận: Khoảng 12 giờ, ngày 27/10/2018, bị cáo đi bộ qua nhà văn hóa khu 1, thị trấn Kim Tân nhìn thấy trong sân nhà văn hóa đang tổ chức đám cưới, ngoài cổng có nhiều xe mô tô không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp xe để lấy tiền tiêu sài cá nhân. Sau đó, bị cáo đi lại bãi dựng xe thì phát hiện một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wawe alpha màu xanh để gần với tường rào, ổ khóa điện đã bị loét. Vì vậy, bị cáo dùng chìa khóa nhà mang theo mở khóa điện, khởi động xe rồi điều khiển ra thị trấn Hà Trung. Tại đây, bị cáo mang chiếc xe vừa trộm cắp được vào một cửa hàng sửa chữa xe máy và hỏi anh Mai Văn Th (Là chủ quán) có mua xe không nhưng anh Th không mua và gọi cho một người đàn ông đến để mua xe. Sau đó, bị cáo cùng người đàn ông lạ mặt kia lên cầu Lèn để giao dịch mua bán. Bị cáo đã bán chiếc xe cho người đàn ông lấy 500.000đ mua ma túy sử dụng và tiêu sài cá nhân hết.
Người bị hại S khai: Khoảng 7 giờ, ngày 27/10/2018, anh đi chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wawe alpha, biển kiểm soát 36H9-3687 do anh là chủ sở hữu đến nhà văn hóa khu 1 để dự đám cưới nhà người thân. Đến nơi, anh dựng xe ở ngoài rồi vào trong phục vụ cho đám cưới. Đến khoảng hơn 12 giờ cùng ngày, khi ra lấy xe để về thì phát hiện xe đã bị mất nên anh đã làm đơn trình báo đến cơ quan công an. Ngày 14/11/2018, anh đã được cơ quan điều tra Công an huyện Thạch Thành trả lại chiếc xe do bị cáo đã trộm cắp nên anh không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, anh đề nghị xử lý bị cáo theo quy định của pháp luật.
Người làm chứng Th khai: Khoảng 14 giờ, ngày 27/10/2018, anh đang ở cửa hàng sửa chữa xe máy của mình thì có một nam thanh niên đi chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wawe alpha màu xanh đến hỏi anh có mua chiếc xe mà anh ta đang đi không nhưng anh không mua mà gọi cho người đàn ông trước đây có nhờ anh tìm mua xe hộ để giới thiệu. Sau đó, giữa nam thanh niên và người đàn ông này giao dịch mua bán như thế nào anh không được biết. Đến ngày 28/10/2018, người đàn ông mà anh giới thiệu mua xe mang chiếc xe nói trên đến quán nhờ anh sửa chữa và thay thế một số phụ tùng, hẹn mấy ngày sau đến lấy. Đến ngày 04/11/2018, công an huyện Thạch Thành cùng với nam thanh niên đã bán xe cho người đàn ông đến để hỏi về chiếc xe, khi đó anh mới biết là xe do người nam thanh niên kia đã trộm cắp mà có nên anh tự nguyện giao nộp cho Công an huyện Thạch Thành.
Trong lời sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử (Sau đây viết tắt là HĐXX) giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HĐXX:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại; lời khai của người làm chứng; vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thạch Thành, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về trách nhiệm hình sự: Đây là vụ án hình sự trộm cắp tài sản có tính chất ít nghiêm trọng do Lê Thanh Ch thực hiện. Bản thân bị cáo là người có sức khỏe và đang trong độ tuổi lao động nhưng không chịu khó làm ăn, kiếm sống một cách lương thiện, chỉ vì ham chơi bời và thích thụ hưởng những vật chất mà không phải do bản thân mình tự tạo ra, để có tiền chi tiêu cho bản thân mà bị cáo đã lén lút trộm cắp tài sản của người khác. Tài sản mà bị cáo trộm cắp có giá trị 4.500.000 đồng, nên có đủ cơ sở xác định bị cáo đã có hành vi phạm vào khoản 1 Điều 173 BLHS.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, có ba tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”; “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và “ Đầu thú”. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
[4] Đối với anh Mai Văn Th, Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với anh Th là đúng quy định của pháp luật.
[5] Về người đàn ông đã mua chiếc xe mô tô do Lê Thanh Ch đem bán, bị cáo Ch và người làm chứng Th khai không biết danh tính, địa chỉ của người này nên không có cơ sở để điều tra mở rộng vụ án.
[6] Về bồi thường thiệt hại: Người bị hại đã nhận lại tài sản do bị cáo trộm cắp, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, nên không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, giao trả lại chiếc xe mô tô cho anh Nguyễn Văn Sơn là chủ sở hữu hợp pháp tài sản là đúng quy định của pháp luật. Đối với 02 chiếc chìa khóa (theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18/12/2018, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạch Thành và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành), cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên,
ơ
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Lê Thanh Ch phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS, xử phạt Lê Thanh Ch 07 (Bảy) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (Ngày 04/11/2018).
Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS, tịch thu tiêu hủy 01 chiếc chìa khóa xe mô tô, trên chìa khóa có ghi số 623 và 01 chiếc chìa khóa bằng kim loại màu trắng, có vòng tròn kim loại nối với đầu chìa khóa, một mặt ghi chữ “HANOI”, một mặt ghi chữ “LUUMY”.
Án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, bị cáo Lê Thanh Ch phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo và người bị hại. Bị cáo và người bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người bị hại; - VKSND huyện Thạch Thành; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - Công an huyện Thạch Thành; - Đội THAHS công an Thạch Thành; - Trại tạm giam CA tỉnh Thanh Hóa; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đào Anh Đức |