vanban.org

Bản án 03/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau Tuyên án 11/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Phạm Cu Đ phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Xử phạt: Phạm Cu Đ 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn từ được tính kể từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án. Tịch thu tiêu hủy 1 miếng gạch bể loại gạch lót vĩa hè có kích thước 5,50cm x 3,50cm x 3cm, 1 miếng gạch bể loại gạch lót vĩa hè có kích thước 5,50cm x 3,40cm x 3cm, 1 miếng gạch bể loại gạch lót vĩa… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (điều 106 Bộ l…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Phạm Cu Đ phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI NƯỚC
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:03/2019/HSST
Ngày:11-3-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Kỳ

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Mầm

Ông Bùi Hữu Khánh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc San – Thư ký Toà án nhân dân huyện Cái Nước

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước tham gia phiên tòa: Bà Từ Thanh Thùy - Kiểm sát viên

Trong ngày 11 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Nước mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 04/2019/HSST ngày 09 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2019/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:

Phạm Cu Đ, sinh năm 1990 tại huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: ấp CN, thị trấn CN, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau; Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Trung Q và bà Ngô Thu V; Vợ, con: Không; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: tốt; bị khởi tố và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/11/2018 đến nay.

Bị cáo tại ngoại có mặt.

Bị hại: Ông Qúach Thanh T, sinh năm 1972 (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Số 46 đường QT, Khóm x, Phường y, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1964 (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Số 59 đường TVB, Khóm x, Phường y, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 02 giờ ngày 15/10/2018 anh Lê Thành P điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 69C-026.82 do ông Qúach Thanh T đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe và cùng với anh Nguyễn Hồng N chở cá từ thành phố Cà Mau xuống thị trấn CN, huyện Cái Nước để giao cho khách hàng. Đến khoảng 02 giờ 30 phút cùng ngày thì Phạm Cu Đ đến nhận cá lần thứ nhất, sau đó Đ đến nhận cá lần thứ hai, lần này Đ nhờ anh P cùng chở cá vào chợ nhưng anh P không đi vì đang bận phụ anh N giao cá cho khách.

Do không nhờ được anh P nên Đ không nhận cá mà chạy xe đi khoảng 20m thì đậu xe và đi bộ trở lại đứng trước đầu xe tải chửi thô tục nhưng anh P và anh N không nói gì, sau đó Đ nhặt miếng gạch bị bể chọi vào xe ô tô tải biển kiểm soát 69C-026.82 làm móp cạnh thùng xe gần cabin và làm bể kính chắn gió của xe, sau đó Đ bỏ đi, anh P trình báo sự việc với cơ quan công an đến lập biên bản sự việc.

Vật chứng của vụ án thu được gồm 01 xe ô tô tải biển kiểm soát 69C-026.82, 03 miếng gạch bể, loại gạch lót vĩa hè 1 (1 miếng có kích thước 5,50cm x 3,50cm x 3cm, 1 miếng có kích thước 5,50cm x 3,40cm x 3cm, 1 miếng có kích thước 3,50cm x 10cm x 15cm.

Tại kết luận định giá tài sản số 34/KL-HĐĐGTS ngày 19/10/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cái Nước kết luận: 01 kính chắn gió ôtô tải thùng kín, hiệu HINO, biển số 69C-026.82 còn 82% giá trị sử dụng, giá trị thực tế là 18.690.822 đồng.

Sau khi sự việc xảy ra thì Phạm Cu Đ đã bồi thường cho bị hại số tiền 22.700.000 đồng, hiện nay người đại diện theo ủy quyền của bị hại không yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự và có đơn yêu cầu không xử lý trách nhiệm hình sự đối với Phạm Cu Đ.

Tại Cáo trạng số 02/CT–VKS ngày 09 tháng 01 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo Phạm Cu Đ về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 178, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo từ 9 tháng đến 1 năm tù. Đối với vật chứng của vụ án thu được gồm 03 miếng gạch bể, loại gạch lót vĩa hè 1 (1 miếng có kích thước 5,50cm x 3,50cm x 3cm, 1 miếng có kích thước 5,50cm x 3,40cm x 3cm, 1 miếng có kích thước 3,50cm x 10cm x 15cm, đề nghị HĐXX tịch thu tiêu hủy.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Trong quá trình điều tra vụ án ông Nguyễn Văn T là người đại diện theo ủy quyền của bị hại không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự, đồng thời có yêu cầu không xử lý hình sự đối với Phạm Cu Đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cái Nước, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thự hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Đối với người đại diện theo ủy quyền của bị hại đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng không có lý do, xét thấy việc vắng mặt của người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Cụ thể là vào ngày 15/10/2018 bị cáo đã thực hiện hành vi dùng tay cầm miếng gạch lót vĩa hè bị bể chọi vào xe ô tô tải biển kiểm soát 69C-026.82 do ông Qúach Thanh T đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe, gây ra hậu quả là làm móp cạnh thùng xe gần cabin và làm bể kính chắn gió của xe. Theo kết luận định giá tài sản số 34/KL-HĐĐGTS ngày 19/10/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cái Nước thì kính chắn gió ôtô tải có giá trị thực tế là 18.690.822 đồng. Do đó, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Cu Đ phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo.

Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Khi thực hiện hành vi bị cáo nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo cố tình thực hiện để hả cơn tức giận của bản thân mình. Hành vi của bị cáo không chỉ vi phạm pháp luật mà còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương; gây tâm lý hoang man cho người dân trong việc quản lý tài sản của mình. Do đó, cần phải có mức hình phạt nghiêm để bị cáo có thời gian cải tạo thành người công dân tốt có ích cho xã hội, nhằm mục đích giáo dục và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Trong quá trình điều tra bị hại yêu cầu không xử lý trách nhiệm hình sự đối với bị cáo nhưng xét thấy bị cáo hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên Hội đồng xét xử không chấp nhận miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo yêu cầu của bị hại, mà chỉ xác định đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không; về tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại cho bị hại xong; bị hại có yêu cầu không xử lý hình sự đối với bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Như vậy, nội dung đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử có xem xét để áp dụng mức hình phạt thấp hơn mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy 1 miếng gạch bể loại gạch lót vĩa hè có kích thước 5,50cm x 3,50cm x 3cm, 1 miếng gạch bể loại gạch lót vĩa hè có kích thước 5,50cm x 3,40cm x 3cm, 1 miếng gạch bể loại gạch lót vĩa hè có kích thước 3,50cm x 10cm x 15cm.

Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Các Điều 106, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: bị cáo Phạm Cu Đ phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Xử phạt: Phạm Cu Đ 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn từ được tính kể từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

Tịch thu tiêu hủy 1 miếng gạch bể loại gạch lót vĩa hè có kích thước 5,50cm x 3,50cm x 3cm, 1 miếng gạch bể loại gạch lót vĩa hè có kích thước 5,50cm x 3,40cm x 3cm, 1 miếng gạch bể loại gạch lót vĩa hè có kích thước 3,50cm x 10cm x 15cm (Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/01/2019).

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Phạm Cu Đ phải chịu 200.000 đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo pháp luật. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Phòng KTNV&THA TAND tỉnh Cà Mau;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Cà Mau;

- VKSND huyện Cái Nước;

- Cơ quan CSĐT Công an huyện Cái Nước;

- Cơ quan THAHS Công an huyện Cái Nước;

- Chi cục THADS huyện Cái Nước;

- Sở tư pháp tỉnh Cà Mau;

- Bị cáo;

- Bị hại;

Nguyễn Văn Kỳ

- Lưu: VT, hồ sơ vụ án TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN CÁI NƯỚC

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TỈNH CÀ MAU Số:02/2019/TB-TA

Cái Nước, ngày 22 tháng 3 năm 2019

THÔNG BÁO

SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN

Căn cứ các Điều 45, 260 và 261 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Xét cần Bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2019/HSST ngày 11 tháng 3 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau có sự nhầm lẫn cần được sữa chữa, bổ sung như sau:

1. Về nội dung:

- Tại dòng thứ 16 từ dưới đếm lên của trang số 2 của Bản án nêu trên đã ghi: “nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 178, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 ”

Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: “nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2”.

- Tại dòng thứ 4, 5, 6, 7 từ dưới đếm lên của trang số 3 của Bản án nêu trên đã ghi: “…thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại cho bị hại xong; bị hại có yêu cầu không xử lý hình sự đối với bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự”.

Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: “…thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại cho bị hại xong; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại có yêu cầu không xử lý hình sự đối với bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự”.

- Tại dòng thứ 13 từ trên đếm xuống của trang số 4 của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi: “Khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;”

Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: “Khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;”.

2. Các nội dung còn lại của Bản án nêu trên được giữ nguyên.

Cỡ chữ