vanban.org

Bản án 03/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 27/02/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dƣơng Ngọc S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Dƣơng Ngọc S 24 tháng tù cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Dƣơng Ngọc S cho Ủy ban nhân dân xã Tử Nê, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Ngọc S trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dƣơng Ngọc S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN LẠC
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2019/HS-ST
Ngày 27 – 02 – 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN LẠC, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Doanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Thanh Xuân.

Bà Bùi Thị Liên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Phƣơng – Thƣ ký Tòa án nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2019/TLST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 03/2019/ QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:

DƢƠNG NGỌC S, sinh ngày 05/9/1996 tại T, tỉnh Hòa Bình.

Nơi cƣ trú: xóm 3, xã T, huyện T, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Nghề tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dƣơng Hồng L ( đã chết) và bà Bùi Thị Th; bị cáo chƣa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ ngày 23/8/2018; bị tạm giam từ ngày 01/9/2018 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Trần Thế L, sinh năm 1989; có mặt.

Nơi cƣ trú: xóm 3, xã T, huyện T, tỉnh Hòa Bình.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Dƣơng Thị Bích N, sinh năm 1994; có mặt.

Nơi cƣ trú: khu 1 thị trấn M, huyện T, tỉnh Hòa Bình.

- Người tham gia tố tụng khác: Ngƣời làm chứng, gồm:

+ Anh Đỗ Tiến M, sinh năm 1994; vắng mặt.

Nơi cƣ trú: số nhà 834, tổ 11, phƣờng P, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.

+ Ông Nguyễn Trƣờng T, sinh năm 1962; vắng mặt.

Nơi cƣ trú: xóm 3, xã T, huyện T, tỉnh Hòa Bình.

+ Bà Dƣơng Thị H, sinh năm 1969; vắng mặt.

Nơi cƣ trú: xóm 3, xã T, huyện T, tỉnh Hòa Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 26/5/2017, Dƣơng Ngọc S đang ngủ thì dậy ra phía sau nhà đi vệ sinh. S nhìn sang phía nhà anh Trần Thế L ở cách nhà S một ngôi nhà. Trƣớc đó, S biết nhà anh L đi vắng không có ai ở nhà và có mở cửa hàng mua bán, sửa chữa điện thoại di động, trong nhà có rất nhiều điện thoại nên S nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. S đi bộ qua phía sau nhà anh L, trèo lên một cây mọc sát chân tƣờng bao, khi trèo đến ngang đỉnh tƣờng bao thì S dùng tay cậy tấm tôn quây bên trên tƣờng bao tạo ra một lỗ chui vừa ngƣời rồi chui vào bên trong. S tìm xung quanh thấy một chiếc thùng sơn đã dùng hết, mang đến kê sát chân tƣờng nhà, đứng lên chiếc thùng và dùng tay gỡ các tấm kính của cửa chớp lật ra. S trèo lên rồi chui qua ô thoáng vào bên trong. Khi vào gian bếp, S bật đèn của điện thoại NOKIA 1280 màu đen mang theo để soi đƣờng đi vào gian phòng khách. S thấy chùm chìa khóa, cầm và đi ra gian trái bên ngoài, nơi có hai tủ quầy trƣng bày điện thoại kê vuông góc với nhau. Một tủ trƣng bày điện thoại màn hình cảm ứng, một tủ trƣng bày điện thoại đen trắng sử dụng bàn phím cơ. S dùng chìa khóa mở đƣợc cửa kính của hai tủ trên. S lấy toàn bộ điện thoại di động màn hình cảm ứng và một số điện thoại đen trắng để lên mặt tủ. Sau đó, S tìm trong nhà L đƣợc một túi nilon màu xanh và cho điện thoại vừa lấy vào túi. Trong quá trình cho điện thoại vào, S làm rơi một chiếc điện thoại Iphone 5 xuống nền nhà, S kiểm tra thấy bị rạn nứt màn hình và bật không lên nguồn đƣợc nhƣng vẫn cho vào túi cùng số điện thoại còn lại. Sau đó S khóa cửa tủ, để chìa khóa vào chỗ cũ và đi vào trong gian bếp mở cửa để thoát ra ngoài về nhà. Về đến nhà, S cất túi điện thoại lên gác bếp rồi đi nằm. Đƣợc một lúc, S lại sang nhà anh L. Lần này, S đi bằng lối cửa sau mà khi nãy đã mở ra để vào nhà anh L. Khi vào đến trong nhà, S bật điện thoại rồi đi thẳng ra ngoài gian trái có kê tủ trƣng bày điện thoại, S thấy có hai chiếc điện thoại đen trắng để trên mặt tủ quầy trƣng bày điện thoại nên cầm cho vào túi. Tiếp đó, S đi vào buồng ngủ, thấy trên giƣờng có để 1 sợi dây chuyền bằng bạc nên cầm lấy sợi dây chuyền cho vào túi quần rồi về nhà. Khi về nhà, S kiểm tra thì phát hiện hai chiếc điện thoại vừa lấy bật không lên nguồn. S để hai chiếc điện thoại cùng sợi dây chuyền bạc vào túi nilon lúc trƣớc rồi đi ngủ. Đến khoảng 07 giờ sáng, S cầm túi nilon đựng điện thoại rồi đón xe khách ra thành phố H để tiêu thụ. Trên đƣờng đi, S lấy ra 3 chiếc điện thoại Iphone 5 trong đó có 1 chiếc bị rơi trong quá trình trộm cắp, hai chiếc điện thoại đen trắng bật không lên nguồn và 1 sợi dây chuyền bạc cho vào hai túi quần. Sau đó, S bán 29 chiếc điện thoại còn lại cho anh Đỗ Tiến M, nhân viên cửa hàng điện thoại Đức Thuần; địa chỉ: 834 tổ 11 phƣờng P thành phố H tỉnh Hòa Bình đƣợc số tiền 7.300.000đ. Việc mua bán không có giấy tờ, hóa đơn và S cũng không nói về nguồn gốc số điện thoại trên. Sau khi bán đƣợc điện thoại, S đón xe khách ra Hà Nội để tìm việc làm và thuê một phòng trọ tại quận N thành phố Hà Nội. S để chiếc điện thoại Iphone 5 bị rơi và hai điện thoại đen trắng bật không lên nguồn ở phòng trọ và bị mất cả ba chiếc điện thoại này trong quá trình chuyển phòng trọ khác. Còn hai chiếc điện thoại Iphone 5 và sợi dây chuyền bạc S để sử dụng. Trong thời gian ở Hà Nội, S bán một chiếc điện thoại Iphone 5 cho ngƣời phụ nữ tên Phƣơng A cùng khu trọ đƣợc 600.000đ. Thời gian sau đó, S bán sợi dây chuyền cho một ngƣời đàn ông không rõ họ tên, địa chỉ cùng làm ở công trƣờng đƣợc 320.000đ. Đến khoảng tháng 02 năm 2018, S bán chiếc điện thoại Ipnone 5 còn lại cho một cửa hàng điện thoại tại thành phố H đƣợc 900.000đ. Toàn bộ số tiền bán có đƣợc từ việc bán tài sản do trộm cắp mà có, S đã tiêu xài vào mục đích cá nhân. Đến ngày 23/8/2018, S đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 08/KL-ĐGTS ngày 24/7/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tân Lạc đã kết luận: “ Tài sản định giá là 05 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5 màu trắng, bộ nhớ trong 16G, đã qua sử dụng; 02 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S màu vàng, bộ nhớ trong 16G, đã qua sử dụng; 07 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 5S màu trắng, bộ nhớ trong 16G, đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia Lumia 925 màu ghi, đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia Lumia 625 màu trắng, đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia Lumia 535 màu đen, đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại di động loại K850 màu đen xám do Trung Quốc sản xuất, đã qua sử dụng; 06 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen xanh, đã qua sử dụng; 10 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 1202 màu đen xanh, đã qua sử dụng và 01 sợi dây chuyền bằng bạc màu trắng, trọng lượng 30 chỉ, đã qua sử dụng, có giá bán tại thời điểm tháng 5/2017 là 52.020.000đ”.

Tại Bản cáo trạng số 01/CT-VKSTL ngày 03/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình đã truy tố bị cáo Dƣơng Ngọc S về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên nội dung quyết định truy tố, tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo tích cực bồi thƣờng, khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo Dƣơng Ngọc S phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù và cho hƣởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự do bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu nên đề nghị không xem xét. Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra không thu hồi đƣợc nên không đề cập giải quyết.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình nhƣ nội dung cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin đƣợc áp dụng mức hình phạt nhẹ nhất để sớm trở về với xã hội.

Bị hại đã nhận đƣợc 20.000.000đ tiền bồi thƣờng, không yêu cầu bị cáo phải bồi thƣờng gì thêm và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã bồi thƣờng cho anh Trần Thế L số tiền 20.000.000đ do có sự tác động của bị cáo. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về tố tụng: Hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Lạc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Lạc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã đƣợc thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố những ngƣời tham gia tố tụng không có khiếu nại, tố cáo hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng.

Về căn cứ xác định tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo: Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 26/5/2017, lợi dụng đêm khuya, không có ai ở nhà nên bị cáo Dƣơng Ngọc S đã có hành vi trộm cắp tài sản của nhà anh Trần Thế L gồm 05 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5 màu trắng, bộ nhớ trong 16G, đã qua sử dụng; 02 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S màu vàng, bộ nhớ trong 16G, đã qua sử dụng; 07 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 5S màu trắng, bộ nhớ trong 16G, đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia Lumia 925 màu ghi, đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia Lumia 625 màu trắng, đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia Lumia 535 màu đen, đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại di động loại K850 màu đen xám do Trung Quốc sản xuất, đã qua sử dụng; 06 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen xanh, đã qua sử dụng; 10 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia 1202 màu đen xanh, đã qua sử dụng và 01 sợi dây chuyền bằng bạc màu trắng, trọng lƣợng 30 chỉ, đã qua sử dụng. Tổng trị giá tài sản là 52.020.000đ. Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nhƣ vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Dƣơng Ngọc S đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản pháp luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.

Tại thời điểm phạm tội, tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại điểm e khoản 2 Điều 138 của Bộ luật hình sự 1999. Theo hƣớng dẫn tại Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 thì hành vi phạm tội của bị cáo bị truy tố và xét xử theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Đánh giá về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, năng lực chịu trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo là ngƣời có khả năng nhận thức, có đầy đủ năng lực năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, để có tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội của mình. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của ngƣời khác đƣợc pháp luật hình sự bảo vệ và gây ảnh hƣởng đến trật tự an toàn xã hội. Do vậy, cần có một mức án tƣơng xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo đã tích cực bồi thƣờng thiệt hại; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo đƣợc quy định tại điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo có nơi cƣ trú rõ ràng, có nhân thân tốt; trƣớc lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành đúng đƣờng lối chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi cƣ trú. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do vậy, xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo đƣợc hƣởng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện cũng đủ để cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội. Đề nghị của Kiểm sát viên cho bị cáo đƣợc hƣởng án treo là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là ngƣời không có tài sản, làm nghề tự do thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: 29 chiếc điện thoại các loại bị cáo bán cho anh Đỗ Tiến M, nhân viên cửa hàng điện thoại Đ; địa chỉ: số 834 tổ 11 phƣờng P thành phố H tỉnh Hòa Bình, cửa hàng điện thoại Đ đã bán hết, việc mua bán không có hóa đơn giấy tờ và thông tin khách hàng; 02 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 5 bị cáo để lại sử dụng đã bán cho ngƣời tên Phƣơng A đƣợc 600.000đ , bán cho một cửa hàng điện thoại di động tại thành phố H đƣợc 900.000đ và 01 dây chuyền bạc bị cáo bán cho ngƣời thanh niên làm cùng công trƣờng không rõ tên, tuổi, địa chỉ, không xác định đƣợc ngƣời mua; 1 điện thoại Iphone 5 bị rạn màn hình và 02 chiếc điện thoại đen trắng bật không lên nguồn bị cáo đã đánh mất khi chuyển phòng trọ tại Hà Nội; Đối với chiếc điện thoại di động Nokia 1280 màu đen bị cáo dùng để soi đƣờng trong quá trình trộm cắp tài sản, chiếc điện thoại này đã bị hỏng nên bị cáo đã vứt bỏ đi. Toàn bộ số vật chứng trên, cơ quan điều tra không thu hồi đƣợc nên không đề cập giải quyết.

Về trách nhiệm dân sự: Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã bồi thƣờng cho bị hại số tiền 20.000.000đ. Bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thƣờng gì thêm nên không đề cập giải quyết.

Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền đã bồi thƣờng nên không đề cập giải quyết.

Về các vấn đề khác: Đối với những ngƣời mua tài sản do bị cáo bán gồm ngƣời tên là Phƣơng A cùng khu trọ ở Hà Nội, một ngƣời làm cùng công trƣờng, một cửa hàng điện thoại trên thành phố H. Quá trình điều tra không xác định đƣợc họ tên, địa chỉ của những ngƣời này và bán cho anh Đỗ Tiến M; địa chỉ: số 834 tổ 11 phƣờng P, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Khi bán, bị cáo không nói về nguồn gốc tài sản là do phạm tội mà có cho những ngƣời này và anh Đỗ Tiến M cũng không hỏi về nguồn gốc tài sản. Do vậy, không có căn cứ để xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 và khoản 1; 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự; khoản 4 Điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dƣơng Ngọc S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Dƣơng Ngọc S 24 tháng tù cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Dƣơng Ngọc S cho Ủy ban nhân dân xã Tử Nê, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phƣơng trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trƣờng hợp bị cáo thay đổi nơi cƣ trú trong thời gian thử thách thì đƣợc thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. Nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì có thể bị Tòa án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt tù đã cho hƣởng án treo.

Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Dƣơng Ngọc S.

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội: Bị cáo Dƣơng Ngọc S phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ