vanban.org

Bản án 03/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Thuận Tuyên án 24/01/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/01/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

VKSND tỉnh Bình Thuận;

VKS, CA, TA, THA huyện; S tư pháp tỉnh Bình Thuận; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Tuyết T - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2019/HS-PT
Ngày: 24-01-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thanh Thúy

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hồng Thái và ông Lương Thanh Chín

- Thư ký phiên tòa: Bà Dụng Thị Mỹ Ái - Là Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trung Dũng- Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2019 tại trụ s Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 97/2018/TLPT-HS ngày 12 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn Thị Tuyết T do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 42/2018/HS-ST ngày 30 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thị Tuyết T - sinh năm 1986 nơi sinh tại tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú 245/7A phường HT, quận TP, thành phố HCM ; nghề nghiệp buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn) 12/12; dân tộc Kinh; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Nguyễn Thái S (Chết) và bà Trần Thị T (Chết); chồng Nguyễn Xuân Svà 03 người con; tiền án ngày 29/3/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố HCM xử phạt 09 (chín) tháng tù nhưng cho hư ng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tại bản án hình sự phúc thẩm số 125/2017/HSPT; tiền sự, nhân thân không; bị bắt ngày 21/5/2018, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện ĐL; có mặt tại phiên tòa.

- Những người tham gia tố tụng khác: Người bào chữa theo yêu cầu của bị cáo: Ông Nguyễn Quốc P - Luật sư của Văn phòng luật sư Q P thuộc đoàn luật sư tỉnh B T ; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến năm 2013 Nguyễn Thị Tuyết T làm Hội trư ng Hội từ thiện của Báo Giác Ngộ có trụ s tại số 85 đường Nguyễn Đình Chiểu, quận 3, thành phố HCM. Do đó T biết thông tin, danh sách và số điện thoại của các Ni Trư ng Ni Sư trong Hệ phái Khất Sỹ của Hội phật giáo Việt Nam. Đầu tháng 4/2018, do cuộc sống khó khăn túng quẩn và thiếu nợ nhiều người với lãi suất cao không có khả năng thanh toán nên T nảy sinh ý định lừa gạt người khác để lấy tiền trả nợ. Bằng hình thức lợi dụng lòng tin, sự ảnh hư ng của các Ni Trư ng đối với Ni Sư trong quan hệ để chiếm đoạt. Nguyễn Thị Tuyết T tìm trong danh sách các Ni Sư và biết được số điện thoại của Ni Sư Phượng Liên (Tên giấy tờ là Nguyễn Thị H) rồi liên lạc để thực hiện ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Ngày 01/4/2018, Nguyễn Thị Tuyết T sử dụng số thuê bao 0902963676 giả danh mình là Ni Trư ng Thảo Liên (qua điều tra xác minh thì Ni Trư ng Thảo Liên là không có thực) nói bằng giọng Huế, hiện đang định cư tại nước Mỹ liên lạc với bà H qua số thuê bao 0915595134 nói chuyện. Trong cuộc nói chuyện Ni Trư ng Thảo Liên do Nguyễn Thị Tuyết T giả danh có nhờ bà H giúp đỡ cho Nguyễn Thị Tuyết T là phật tử quen biết với Ni Trư ng Thảo Liên hiện đang sống tại thành phố HCM có hoàn cảnh khó khăn mượn 200.000.000đồng Ni Trư ng Thảo Liên hứa sẽ trả và giúp đỡ bà Nguyễn Thị H xây dựng tịnh xá. Nghe Ni Trư ng Thảo Liên nói như vậy nên bà H đồng ý giúp đỡ và ghi lại số điện thoại 0902 963676 của Nguyễn Thị Tuyết T để liên lạc. Sau đó bà H sử dụng số thuê bao 0915595134 liên lạc với Nguyễn Thị Tuyết T qua số điện thoại 0902963676 để nói chuyện và Nguyễn Thị Tuyết T đã đọc cho bà H số tài khoản 0331000413483 của Nguyễn Thị Tuyết T tại Ngân hàng Vietcom Bank hướng dẫn cho bà H cách chuyển tiền vào tài khoản của Nguyễn Thị Tuyết T tại Ngân hàng Vietcom Bank huyện ĐL. Ngày 02/04/2018, tại Ngân hàng Vietcom Bank Chi nhánh huyện ĐL trụ s tại thị trấn Đức Tài, huyện ĐL bà H chuyển khoản cho Nguyễn Thị Tuyết T số tiền 200 000.000đồng.

Ngày 5/4/2018, Nguyễn Thị Tuyết T lại giả danh Ni Trư ng Thảo Liên gọi điện thoại cho bà H nói dối là “Ni Trư ng Thảo Liên có người thân bị bệnh hen xuyển, nói bà H cho Ni Trư ng Thảo Liên mượn 120.000.000đồng và nhờ bà H chuyển tiền cho Nguyễn Thị Tuyết T để T lên tỉnh ĐăkLăk mua thuốc dùm”. Nghe vậy bà H đồng ý cho Ni Trư ng Thảo Liên mượn tiền, theo lời dặn của Ni Trư ng Thảo Liên bà H chuyển vào tài khoản của Nguyễn Thị Tuyết T 120.000.000đồng (chuyển 02 lần, một lần vào ngày 05/4/2018 chuyển số tiền là 100.000.000đồng và ngày 09/4/2018 chuyển số tiền là 20.000.000đồng) tại Ngân hàng Vietcom Bank Chi nhánh huyện ĐL có trụ s tại thị trấn ĐT huyện ĐL.

Ngày 13/4/2018, T tiếp tục giả danh Ni Trư ng Thảo Liên gọi điện thoại cho bà H nói dối là “Sư đã về Việt Nam nhưng gặp sự cố ngoài Hà Nội, Sư cần con cho Sư mượn 150.000.000đồng để thuê luật sư. Sư nhờ con chuyển tiền cho Nguyễn Thị Tuyết T để T đem đến đưa cho luật sư A đang làm việc tại lầu 6, số 6, tòa nhà Techcom Bank đường Nguyễn Thị Minh Khai phường Đakao Quận 1, thành phố HCM ”. Nghe vậy bà H đi mượn tiền rồi chuyển vào tài khoản như mọi lần trước của T là 70.000.000đồng. Khoảng 7 giờ 30 phút ngày 15/4/2018 (là ngày nghỉ nên ngân hàng không làm việc), T gọi điện thoại rồi hướng dẫn cho bà H gửi 80.000.000đồng cho xe khách VP tuyến BR , huyện TL đi bến xe Miền Đông thành phố HCM (Gửi tiền tại chợ N).

Đến trưa cùng ngày phụ xe khách VP là Trần Văn C, sinh năm 1988, trú tại thôn 3 xã ĐT huyện TL đã giao tiền tận tay cho T tại bến xe Miền Đông thành phố HCM.

Vài ngày sau (do không rõ ngày), Nguyễn Thị Tuyết T tiếp tục giả danh Ni Trư ng Thảo Liên gọi điện thoại cho bà H nói dối là “Sư cần 50.000.000đồng nữa thì xong việc”. Lúc này bà H đang Tịnh Xá Ngọc Thạch cùng với bà Đào Thị L (pháp danh Ni Sư Liêm Liên) sinh năm 1950 tại số 502 đường THĐ phường LĐ thành phố PT, tỉnh BT nên không có tiền. Ni Trư ng Thảo Liên nói bà Hoa đưa điện thoại cho bà Đào Thị L để Ni Trư ng Thảo Liên nói chuyện. T giả danh Ni Trư ng Thảo Liên nói “Ni Trư ng Thảo Liên đây con có tiền cho Sư mượn 50.000.000đồng đưa cho Ni Sư Phượng Liên rồi Sư sẽ gửi lại con sau”. Bà L nghe vậy nói “Để con gom được bao nhiêu sẽ đưa cho Ni Sư Phượng Liên”. Khoảng 30 phút sau, bà H gọi lại cho T nói là đã có 45.000.000 đồng nhưng không biết chuyển tiền cho T bằng cách nào. Trang gọi Tổng đài bến xe Miền Đông hỏi nhà xe đi từ thành phố PT, tỉnh BT đi bến xe Miền Đông. Sau khi hỏi rõ thông tin T gọi cho bà H hướng dẫn bà H ra bến xe B thành phố PT gửi tiền cho xe khách (chưa xác định được nhà xe) đem vào bến xe Miền Đông và T đã nhận được 45.000.000đồng trong ngày.

Khoảng 4 giờ ngày 22/4/2018, T thuê ông Trần Thanh C, sinh năm 1993, trú tại 90/1 đường LTV phường TTH, quận T P, thành phố HCM ch T về xã SN, huyện ĐL gặp bà H nhằm mục đích tiếp tục lừa đảo nhưng do bà H nghi ngờ hành vi của Thảo Liên nên báo cơ quan điều tra. Khoảng 9 giờ cùng ngày, T đến tịnh xá nơi bà H đang tu hành tại thôn 6, xã SN, huyện ĐL thì Công an huyện ĐL mời về trụ s làm việc.

Quá trình điều tra, xác định Nguyễn Thị Tuyết T đã 03 lần giả danh Ni Trư ng Thảo Liên để lừa đảo chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị H tổng số tiền là 470.000.000đồng. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 42/2018/HS-ST ngày 30 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh đã xử như sau:

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 54; khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Tuyết T 05 (năm) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt 05 (năm) năm tù của bản án này và 09 (chín) tháng tù tại Bản án hình sự phúc thẩm số 125/2017/HSPT, ngày 29/3/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Buộc bị cáo phải chấp hành chung của hai bản án là 05 (năm) 09 (chín) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 21/5/2018.

Ngoài ra tòa sơ thẩm còn tuyên buộc bị cáo phải bồi thường 470.000.000đồng cho bị hại; tuyên xử lý vật chứng, tiền án phí và thông báo quyền kháng cáo.

Ng 05 tháng 11 năm 2018, bị cáo Ngu ễn Thị Tu ết T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Kháng cáo của bị cáo không có căn cứ chấp nhận nên đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Tuyết T và giữ nguyên bản án sơ thẩm đã tuyên.

- Ý kiến của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt do hoàn cảnh có con còn nhỏ không ai chăm sóc.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung vụ án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm Luật sư bào chữa cho bị cáo vắng mặt; bị cáo Nguyễn Thị Tuyết T từ chối người bào chữa và tự mình bào chữa. Bị cáo thừa nhận Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là đúng không oan. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt vì hoàn cảnh khó khăn có con nhỏ không ai chăm sóc.

Xét thấy kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Tuyết T làm trong hạn luật định nên đủ điều kiện để xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận: Do có thiếu nợ của nhiều người với lãi suất cao, không có khả năng trả nợ và lợi dụng bản thân đã có thời gian làm Hội trư ng Hội từ thiện của Báo Giác Ngộ, có trụ s tại số 85 đường Nguyễn Đình Chiểu, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh nên Nguyễn Thị Tuyết T có danh sách và số điện thoại của các Ni Trư ng trong hệ phái Khất Sỹ - Hội phật giáo Việt Nam; biết được số điện thoại của bà Nguyễn Thị H (Ni Sư Phượng Liên) nên T nảy sinh ý định lừa gạt bà H để lấy tiền. Trong tháng 4/2018, Nguyễn Thị Tuyết T sử dụng số thuê bao 0902963676 nhiều lần giả danh là Ni Trư ng Thảo Liên đang định cư Mỹ để lừa bà Nguyễn Thị H chiếm đoạt với tổng số tiền là 470.000.000đồng. Do đó Tòa án nhân dân huyện Đức Linh đã xử Nguyễn Thị Tuyết T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ.

Xét yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thị Tuyết T Hội đồng xét xử xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo áp dụng các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo mức án 05 năm tù là dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Xét, nhân thân của bị cáo đã bị Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 (chín) tháng tù nhưng cho hư ng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại Bản án hình sự phúc thẩm số 125/2017/HSPT ngày 29/3/2017. Trong thời gian thử thách bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội mới do lỗi cố ý; do đó tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 là hoàn toàn có căn cứ.

Tại cấp phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm được tình tiết nào mới để Hội đồng xét xử xem xét. Do đó không chấp nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm đã tuyên.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không xét. Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Tuyết T và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm; Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 54; khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Tuyết T 05 (năm) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt 05 (năm) năm tù của bản án này và 09 (chín) tháng tù tại bản án hình sự phúc thẩm số 125/2017/HSPT ngày 29/3/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Buộc bị cáo phải chấp hành chung của hai bản án là 05 (năm) 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/5/2018. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo không bị kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 24/01/2019).

Cỡ chữ