vanban.org

Bản án 03/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị N và anh Lê Văn T .

Về con chung: Giao cho anh Lê Văn T được quyền trực tiếp nuôi con là Lê Huy H sinh ngày 19/9/2002. Chị Nguyễn Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở . Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị N ly hôn anh Lê Văn T"
  • Tòa quyết gì? Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị N và anh Lê Văn T .
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ LỘC
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:03/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 30-5-2019
Về việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ LỘC, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thành Công.

Các Hội thẩm nhân dân :

Ông Trần Duy Chinh

Ông Trần Văn Ngọc

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Thị Huyền Thương - Thẩm tra viên của Toà án nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định

Ngày 30 tháng 5 năm 2019, tại Tòa án nhân dân huyện Mỹ Lộc tỉnh Nam Định mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 23/2019/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2019 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2019/QĐXXST-NHGĐ ngày 22/5/2019 giữa:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N sinh năm 1973. Có mặt.

Địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn M, huyện M, tỉnh Nam Định

Bị đơn: Anh Lê Văn T sinh năm 1967. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn M, huyện M, tỉnh Nam Định

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong bản tự khai, nguyên đơn Nguyễn Thị N trình bày:

Chị và anh Lê Văn T đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 19/01/1995 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Mỹ, tỉnh Nam Định. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống không hạnh phúc thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã với nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Văn T.

Về con chung: Chị và anh Lê Văn T có 02 con là Lê Thị Thủy T sinh ngày 10/9/1996 và Lê Huy H sinh ngày 19/9/2002. Nay cháu Lê Thị Thủy T đã trưởng thành và tự lập được. Cháu Lê Huy H có nguyện vọng được ở cùng bố nên chị tôn trọng nguyện vọng của con.

Về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, biên bản hòa giải bị đơn Lê Văn T trình bày:

Về Hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị N đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 19/01/1995 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Mỹ, tỉnh Nam Định. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc không xảy ra vấn đề gì. Nay chị Nguyễn Thị Nxác định tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn. Anh đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.

Về con chung: Anh và chị Nguyễn Thị N có 02 con là Lê Thị Thủy T sinh ngày 10/9/1996 và Lê Huy H sinh ngày 19/9/2002. Nay cháu Lê Thị Thủy T đã trưởng thành và tự lập được. Anh đề nghị được quyền trực tiếp nuôi con Lê Huy H và tự nguyện không yêu cầu chị Nguyễn Thị N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết..

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Anh Lê Văn T vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Lê Văn T đăng ký kết hôn với nhau vào ngày vào ngày 19/01/1995 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Nam Định nên đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình chung sống, mặc dù anh Lê Văn T cho rằng vợ chồng không có mâu thuẫn gì nhưng chị Nguyễn Thị N kiên quyết xin ly hôn thì anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Thực tế khi chị Nguyễn Thị N yêu cầu Tòa án cho ly hôn đồng thời bỏ ra nhà mẹ đẻ sinh sống, bản thân anh Lê Văn T không có hành động gì để hàn gắn hôn nhân điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị N và anh Lê Văn T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị N .

Về con chung: Chị Nguyễn Thị N và anh Lê Văn T có 02 con là Lê Thị Thủy T sinh ngày 10/9/1996 và Lê Huy H sinh ngày 19/9/2002. Nay cháu Lê Thị Thủy T đã trưởng thành và tự lập được. Cháu Lê Huy H có nguyện vọng được ở cùng bố nên giao cho anh Lê Văn T được quyền trực tiếp nuôi cháu H và chấp nhận sự tự nguyện không yêu cầu chị Nguyễn Thị N cấp dưỡng nuôi con của anh Lê Văn T.

Về tài sản: Không ai yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí : Chị Nguyễn Thị N phải nộp án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị N và anh Lê Văn T .

2. Về con chung: Giao cho anh Lê Văn T được quyền trực tiếp nuôi con là Lê Huy H sinh ngày 19/9/2002. Chị Nguyễn Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở .

3. Án phí: Chị Nguyễn Thị N phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Lộc theo biên lai số 0000974 ngày 26 tháng 02 năm 2019.

Trong hạn 15 ngày: Chị Nguyễn Thị N có quyền kháng cáo kể từ ngày tuyên án; anh Lê Văn T có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì các đương sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ