- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trần Thị H yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Duy N"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Trần Thị H ly hôn anh Nguyễn Duy N.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2019/HNGĐ-ST Ngày 16-4-2019 “V/v Ly hôn.” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Quách Trọng Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Đình Bông; Ông Nguyễn Quang Châu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vi Thế Nam – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Nô.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thơm – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Nô xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 136/2018/TLST-HNGĐ, ngày 20 tháng 12 năm 2018, về việc: “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 14 tháng 3 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số: 10/2019/QĐST-HNGĐ, ngày 29 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị H; sinh năm 1994; địa chỉ: thôn X, xã Đ, huyện K, tỉnh Đăk Nông – Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Duy N; sinh năm 1989; địa chỉ: thôn X, xã Đ, huyện K, tỉnh Đăk Nông – Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 14/12/2018 và quá trình giải quyết vụ án, chị Trần Thị H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh Nguyễn Duy N kết hôn ngày 17/6/2014, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đức Xuyên, huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông. Việc kết hôn dựa trên cơ sở tự nguyện. Chị H và anh N chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cãi nhau, đánh nhau nên không còn sống chung từ tháng 7 năm 2018 đến nay. Thấy hiện nay mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được, không thể kéo dài nên chị H yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Duy N.
Về con chung: Chị H và anh N có 01 con chung là Nguyễn Duy B, sinh ngày 12/5/2015. Chị H có nguyện vọng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến tuổi trưởng thành. Chị H không yêu cầu anh N cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có nợ chung.
* Quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Duy N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh N công nhận nội dung kết hôn với chị Trần Thị H là đúng. Anh N và chị H có nhiều mâu thuẫn, không còn sống chung từ đầu tháng 8 năm 2018 đến nay. Tuy nhiên anh N không đánh đập chị H, tình cảm của anh N với chị H vẫn còn. Anh N có nguyện vọng đoàn tụ gia đình tuy nhiên nếu chị H cương quyết ly hôn thì anh N đồng ý ly hôn.
- Về con chung: Anh N và chị H có 01 con chung là Nguyễn Duy B, sinh ngày 12/5/2015. Anh N có nguyện vọng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến tuổi trưởng thành. Anh N không yêu cầu chị H cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung: Anh N không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Không có nợ chung.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, HĐXX và Người tham gia tố tụng:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và HĐXX: Đã chấp hành đầy đủ theo quy định của pháp luật từ quá trình thụ lý, lập hồ sơ vụ án Thẩm phán đã tiến hành đúng theo quy định của pháp luật. Xác định đúng quan hệ tranh chấp giữa các bên. Tiến hành thu thập chứng cứ, tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ đến các đương sự. Thẩm phán đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đúng theo quy định. Tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng mọi thủ tục, trình tự xét xử theo đúng quy định. Hội đồng xét xử đúng thành phần, thực hiện đúng theo quy định, không có trường hợp nào phải thay đổi người tiến hành tố tụng, Hội đồng xét xử đã hỏi và thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, chị Trần Thị H ly hôn anh Nguyễn Duy N, giao con chung cho chị Trần Thị H nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành.
Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân và gia đình về tranh chấp “Ly hôn”; Bị đơn anh Nguyễn Duy N hiện đang cư trú tại thôn X, xã Đ, huyện K, tỉnh Đăk Nông. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Nô theo; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về nội dung:
2.1. Về hôn nhân: Chị Trần Thị H và anh Nguyễn Duy N kết hôn ngày 17/6/2014, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đức Xuyên, huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông trên cơ sở tự nguyện. Đây là hôn nhân hợp pháp, kết hôn đúng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. Xét yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị H, trong quá trình chung sống, vợ chồng anh chị xảy ra nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, hiện nay anh chị không còn chung sống cùng nhau, không còn quan tâm chăm sóc nhau, mục đích của hôn nhân không đạt được. Việc mâu thuẫn gia đình, chị H và anh N không báo nên chính quyền địa phương không biết.
Trong quan hệ hôn nhân phải dựa trên tình cảm, tình yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc trong gia đình. Tuy nhiên, hôn nhân giữa chị H và anh N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử thấy yêu cầu ly hôn của chị H là có cơ sở, cần chấp nhận.
2.2. Về con chung:
Chị Trần Thị H và anh Nguyễn Duy N có 01 con chung là Nguyễn Duy B, sinh ngày 12/5/2015.
Xét yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung chưa thành niên của chị H và anh N; quá trình giải quyết vụ án chị H và anh N trình bày về điều kiện vật chất nhưng đều không đưa ra căn cứ chứng minh; Hội đồng xét xử thấy cháu Nguyễn Duy B mới 03 tuổi 11 tháng, chị H hiện làm kinh doanh, có thời gian quan tâm, chăm sóc, tạo điều kiện tốt cho con, việc giao con cho chị H trực tiếp nuôi sẽ đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị H.
Khi cần thiết anh Nguyễn Duy N có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con.
Chị H không yêu cầu anh N cấp dưỡng cho con nên không xem xét.
2.3. Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập.
2.4. Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 - Điều 28; điểm a - khoản 1 - Điều 35; điểm a - khoản 1 - Điều 39; khoản 3 - Điều 144; khoản 4 - Điều 147; Điều 235; Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 19; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí toà án.
Xử:
1. Về hôn nhân: Chị Trần Thị H ly hôn anh Nguyễn Duy N.
2. Về con chung:
Giao con chung là Nguyễn Duy B, sinh ngày 12/5/2015 cho chị Trần Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Chị Trần Thị H không yêu cầu cấp dưỡng cho con.
Anh Nguyễn Duy N có quyền thăm nom con chung, không được cản trở, đồng thời có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Vì lợi ích của con, khi cần thiết anh Nguyễn Duy N có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con cũng như cấp dưỡng cho con.
3. Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm, trừ vào 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0003106 ngày 18/12/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Nô.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án cấp trên yêu cầu xét xử phúc thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đăk Nông; - VKSND huyện Krông Nô; - Chi cục THADS huyện Krông Nô; - UBND xã Đức Xuyên, H. Krông Nô; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Quách Trọng Sơn |