vanban.org

Bản án 03/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mộng T. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Mộng T ly hôn với anh

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa chị T và anh S"
  • Tòa quyết gì? tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦU NGANG
TỈNH TRÀ VINH
Bản án số: 03/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 20 - 02 - 2019
“V/v tranh chấp ly hôn, tranh chấp
nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU NGANG TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thoa

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Mai Thanh Chúc

2. Bà Thạch Thị Yến Linh

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Bích Vân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh tham

gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Vũ, Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 02 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang xét xử

sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 05/2018/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 12 năm

2018 về việc “Tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ

án ra xét xử số 04/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 11/02/2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Mộng T, sinh năm 1987 (có mặt)

Địa chị: Ấp N, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

- Bị đơn: Nguyễn Thanh S, sinh năm 1985 (có mặt)

Địa chị: Ấp N, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 02/10/2018, cũng như tại phiên tòa hôm nay

nguyên đơn Nguyễn Thị Mộng T trình bày và có yêu cầu như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2013 chị Nguyễn Thị Mộng T và anh

Nguyễn Thanh S do quen biết, tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân, năm 2014 có

đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Thời gian đầu chung

sống hạnh phúc đến khoảng năm 2015 vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn luôn bất hòa, cải vã, anh S uống rượu về nhà có đánh đập chị nhiều lần, chị có khuyên để anh S thay đổi nhưng tính tình anh S không thay đổi nên chị T đã về nhà cha mẹ ruột sống từ tháng 9/2018 đến nay. Nay thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Thanh S.

Về con chung tên Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 10/11/2015 hiện chị T đang

nuôi dưỡng nên yêu cầu tiếp tục nuôi con.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung của vợ chồng: Chị T không tranh chấp, không yêu cầu

giải quyết và số nợ phải thu, phải trả không tranh chấp không yêu cầu giải quyết.

Ngoài ra chị T không có yêu cầu nào khác.

Quá trình giải quyết, cũng như tại phiên tòa hôm nay bị đơn Nguyễn

Thanh S trình bày và có yêu cầu như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Anh S và chị T chung sống có đăng ký kết hôn và

quá trình sống chung có mâu thuẫn như trình bày của chị T nên chị T đã về nhà cha mẹ ruột sống từ tháng 9/2018 đến nay, anh S có tìm cách hàn gắn lại và hứa sửa đổi tính tình nhưng chị T không đồng ý. Nay anh S xác định còn thương chị T nên không đồng ý ly hôn.

Về con chung thống nhất trình bày của chị T, hiện con chung do chị T

đang trực tiếp nuôi dưỡng, nếu kiên quyết ly hôn thì anh S yêu cầu được nuôi con mà không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung của vợ chồng: Anh S đồng ý không tranh chấp, không

yêu cầu giải quyết.

Về số nợ phải thu, phải trả: Anh S không tranh chấp, không yêu cầu giải

quyết. Ngoài ra không có yêu cầu nào khác.

Ý kiến của Kiểm sát viên:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Về thủ tục thụ lý hồ sơ vụ án,

xác định quan hệ pháp luật, xác định người tham gia tố tụng, thành phần phiên họp, thành phần hòa giải và thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm đều thực hiện đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các văn bản tố tụng từ khi nhận đơn cho đến khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử đều tống đạt đầy đủ, hợp lệ cho các đương sự và các đương sự chấp hành đúng pháp luật.

- Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56, 58,

81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị T được ly hôn với anh S. Về con chung tên Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 10/11/2015 đề nghị giao chị T được quyền nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung các đương sự không

tranh chấp nên không đề nghị xem xét.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm, đề nghị buộc chị T phải nộp theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên

tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Tòa án huyện Cầu Ngang nhận định:

Về quan hệ pháp luật: Xét đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mộng

T tranh chấp ly hôn và tranh chấp nuôi con đối với anh Nguyễn Thanh S; địa chỉ

tại ấp N, xã M, huyện C nên xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn và tranh

chấp nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy giữa chị Nguyễn Thị Mộng T và anh

Nguyễn Thanh S chung sống có đăng ký kết hôn đúng quy định pháp luật. Căn

cứ vào Điều 8, 9 của Luật hôn nhân và gia đình, xác định hôn nhân của chị T và

anh S là hợp pháp.

Quá trình chung sống giữa chị T và anh S luôn bất đồng quan điểm, anh

chị không còn chung sống với nhau từ tháng 9/2018 đến nay. Chị T xác định tình

cảm vợ chồng không hàn gắn được; anh S thừa nhận trong cuộc sống vợ chồng

có mâu thuẫn nhưng anh còn thương chị T nên yêu cầu hàn gắn lại, không đồng ý

ly hôn. Xét thấy, sau khi chị T và anh S không còn chung sống với nhau đến nay

thì mỗi người có cuộc sống riêng, anh S có tìm cách hòa giải để hàn gắn lại

nhưng chị T không đồng ý và phía Tòa án đã nhiều lần hòa giải, động viên đoàn

tụ nhưng không thành. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa chị T và

anh S ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn

nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình cần

chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Mộng T.

Về quyền nuôi con: Chị T và anh S xác nhận có một con chung tên

Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 10/11/2015 và chị T, anh S đều có yêu cầu được nuôi

con.

Hội đồng xét xử, căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình quy định việc

giao con cho ai nuôi cần phải xem xét mọi mặt về quyền lợi của con chưa thành

niên; xét thấy, chị T và anh S sau khi sống riêng thì con chung do chị T trực tiếp

chăm sóc, nuôi dưỡng, chị T đảm bảo cuộc sống của con ổn định về vật chất, sức

khỏe và tinh thần, mặc dù anh S có quan tâm đến con nhưng việc giao con chung

cho anh S nuôi sẽ ảnh hưởng đến tâm lý, sức khỏe của con. Do đó, Hội đồng xét

xử, xét chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị T mới đảm bảo được quyền lợi của

con và phù hợp quy định pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa

Hội đồng xét xử đã giải thích Điều 107, 110 của Luật hôn nhân và gia đình về

nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung khi ly hôn nhưng chị T và anh S không yêu

cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung của vợ chồng: Xét thấy trong đơn khởi kiện và quá

trình giải quyết chị T và anh S không tranh chấp, không có yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về số nợ phải thu, phải trả: Chị T và anh S không tranh chấp, không

yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị Mộng T phải nộp

300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, Điều 235,

Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83, Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ khoản 05 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30

tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mộng T.

- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Mộng T ly hôn với anh

Nguyễn Thanh S.

- Về quyền nuôi con: Giao chị Nguyễn Thị Mộng T được quyền trực tiếp

trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con tên Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 10/11/2015.

Anh Nguyễn Thanh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được

quyền ngăn cản. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Mộng T phải nộp

300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0015748 ngày 28 tháng 11 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Ngang. Chị T đã nộp đủ.

- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo

trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ