- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Do mâu thuẫn gia đình đã đến mức độ trầm trọng nên chị Phạm Thị T yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Minh K"
- Tòa quyết gì? Xét xử vụ án vắng mặt anh Nguyễn Minh K .
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2019/HNGĐ-ST Ngày 18 - 02 - 2019 V/v tranh chấp Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Diệu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Xuân Hòa
2. Bà Trần Thị Ngọc Lan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Như Bình - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn tham gia phiên tòa: Ông Mai Anh Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 158/2018/TLST - HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2018 về tranh chấp Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2019/QĐXXST - HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T - sinh năm 1989
Nơi cư trú: Đội 1, thôn B, xã T, thị xã B, tỉnh Quảng Bình.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Minh K - sinh năm 1987
Nơi cư trú: Đội 2, thôn B, xã T, thị xã B, tỉnh Quảng Bình.
Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn. Bị đơn vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn ngày 03 tháng 12 năm 2018 và bản tự khai cũng như tại phiên toà, nguyên đơn, chị Phạm Thị T trình bày: Chị và anh Nguyễn Minh K tìm hiểu và đi đến hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã B, tỉnh Quảng Bình vào ngày 23 tháng 01 năm 2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung hạnh phúc không được bao lâu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh K thường xuyên nhậu nhẹt rồi chửi bới, đánh đập chị. Cảm thấy không thể chịu đựng được cuộc sống như vậy nên từ tháng 6 năm 2018 cho đến nay, chị đã quyết định sống ly thân với anh K. Trong thời gian ly thân, chị mặc dù đã nhiều lần khuyên can nhưng anh K vẫn không có biểu hiện thay đổi gì khiến chị không còn tin tưởng anh K nữa. Hiện tại, chị cảm thấy mình thật sự không còn tình cảm gì với anh K nên nguyện vọng mong muốn được ly hôn với anh K để sớm ổn định cuộc sống của bản thân.
Quá trình chung sống, chị và anh K chưa có con chung, chưa tôn tạo được tài sản chung gì và cũng không có nợ nần gì chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Giấy triệu tập nhiều lần cho anh K nhưng anh K không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án. Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương xã T và theo lời khai của bà Hồ Thị N (mẹ đẻ của anh K) cho thấy: Gia đình anh K đã nhận được đầy đủ các văn bản tố tụng nói trên của Tòa án và đã thông báo cho anh K biết về nội dung, thời gian đến trụ sở Tòa án cũng như trụ sở Ủy ban nhân dân xã T để tham gia tố tụng. Tuy nhiên, anh K đều không có mặt theo các thông báo và giấy triệu tập của Tòa án để tham gia giải quyết vụ án. Bà Hồ Thị N cho biết, sau các lần Tòa án triệu tập nhưng không về tham gia giải quyết vụ án được thì anh K đã gọi điện thoại về cho gia đình trình bày mong muốn đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định của pháp luật để giải quyết vụ án vắng mặt anh.
Tòa án đã tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật, mở phiên tòa xét xử vụ án vào ngày 31 tháng 01 năm 2019, trước đó đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập đến phiên tòa lần thứ nhất cho anh K, tuy nhiên, do anh K vắng mặt nên Hội đồng xét xử đã hoãn phiên tòa. Tòa án triệu tập anh K đến phiên tòa lần thứ hai vào ngày hôm nay (ngày 18 tháng 02 năm 2019), đã tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập đến phiên toà, Quyết định hoãn phiên tòa cho anh K, nhưng tại phiên tòa anh K vẫn tiếp tục vắng mặt.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Nguyên đơn tuân thủ nghiêm chỉnh sự triệu tập của Tòa án, thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn mặc dù được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, gây khó khăn trong việc giải quyết vụ án. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vụ án vắng mặt bị đơn – anh Nguyễn Minh K .
Về nội dung: Thấy rằng quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh K đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho chị T ly hôn với anh K. Không xem xét giải quyết về con chung và tài sản chung của vợ chồng do không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, căn cứ vào kết quả hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Chị Phạm Thị T có đơn yêu cầu xin ly hôn với anh Nguyễn Minh K ; anh K cư trú (đăng ký hộ khẩu thường trú) tại xã T, thị xã B, tỉnh Quảng Bình, vì vậy, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã B.
Về sự vắng mặt của anh Nguyễn Minh K tại phiên toà, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên toà hai lần nhưng anh K vẫn vắng mặt không rõ lý do, vì vậy, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vụ án vắng mặt anh K.
Về quan hệ hôn nhân:
Chị Phạm Thị T và anh Nguyễn Minh K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền nên quan hệ hôn nhân của hai người là hoàn toàn hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị sống chung hạnh phúc không được bao lâu đã xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh K hay rượu chè bê tha, thiếu tôn trọng vợ, thậm chí còn có hành vi bạo lực đối với chị T. Từ tháng 6 năm 2018 đến nay, hai bên đã sống ly thân và anh K vẫn không có biểu hiện thay đổi gì khiến sự tin tưởng của chị T đối với anh K cũng không còn. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, chị T trình bày chị thực sự không còn tình cảm gì đối với anh K nữa và kiên quyết xin được ly hôn với anh K.
Đối với anh Nguyễn Minh K , mặc dù đã nhận được các văn bản tố tụng đầy đủ, anh biết rõ việc chị T làm đơn xin ly hôn với mình và vụ án đang được Tòa án thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền, nhưng các lần Tòa án triệu tập anh đều không có mặt để tham gia giải quyết và nói lên nguyện vọng về quan hệ hôn nhân của mình. Mặt khác, theo trình bày của chị T và kết quả xác minh cho thấy, trong thời gian ly thân, anh K đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình đối với vợ, không có biện pháp gì để cải thiện tình cảm vợ chồng. Những điều đó chứng tỏ tình cảm của anh K với chị T cũng thực sự không còn nữa.
Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh K đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T, áp dụng khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Phạm Thị T được ly hôn đối với anh Nguyễn Minh K là phù hợp.
Về quan hệ con chung và tài sản chung:
Quá trình giải quyết vụ án chị Phạm Thị T khai nhận, giữa chị và anh Nguyễn Minh K chưa có con chung, không có tài sản chung gì, không vay nợ của ai cũng như không cho ai vay nợ của vợ chồng, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí:
Chị Phạm Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Xét xử vụ án vắng mặt anh Nguyễn Minh K .
2. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Phạm Thị T, xử cho chị Phạm Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Minh K .
3. Về quan hệ con chung: Không có nên không xem xét
4. Về quan hệ tài sản chung: Không có nên không xem xét.
5. Về án phí sơ thẩm: Chị Phạm Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn để sung vào công quỹ Nhà nước, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà chị đã nộp trước đây tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã B theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002287 ngày 05 tháng 12 năm 2018. Chị T đã nộp đủ tiền án phí.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Bình; - VKSND thị xã B; - Chi cục THADS thị xã B; - UBND xã T; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Xuân Diệu |