- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Anh Lù Văn H được ly hôn với chị Ly Thị Ch.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC HÀ TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2019/HNGĐ- ST Ngày: 28/03/2019 “V/v Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC HÀ, TỈNH LÀO CAI.
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thọ
Các Hội thẩm nhân dân: + Bà Long Hải Dỉnh
+ Bà Nguyễn Kim Phương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 03 năm 2019. Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:63/2018/TLST-HNGĐ, ngày 03 tháng 12 năm 2018 về việc “ Ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:04/2019/QĐXX- ST, ngày 25 tháng 02 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2019/QĐST- HNGĐ, ngày 12/03/2019 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Anh Lù Văn H - sinh năm:1994. Địa chỉ: Thôn Ph 2, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai - Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2.Bị đơn: Chị Ly Thị Ch - sinh năm 1992. Địa chỉ: Thôn Ph2, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ly hôn ngày 03/12/2018 và bản tự khai tiếp theo nguyên đơn anh Lù Văn H trình bày: Anh và chị Ly Thị Ch kết hôn với nhau là hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Bản Phố, huyện Bắc Hà vào ngày 22/10/2014. Trong quá trình chung sống anh, chị sống hòa thuận hạnh phúc. Nhưng không biết vì lý do gì chị Ch bỏ nhà đi khỏi địa phương từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 và mất tích từ đó cho đến nay không về nhà. Anh Lù Văn H đã làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc tuyên bố chị Ly Thị Ch mất tích và đã được Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà giải quyết ngày 26 tháng 10 năm 2018. Nay anh xét thấy để đảm bảo cuộc sống sau này của anh đi xây dựng gia đình mới, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Ly Thị Ch.
VÒ con chung: Quá trình chung sống giữa anh và chị Ch không có con chung, nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản và các khoản nợ: Trong thời gian sống chung giữa anh và chị Ch không có tài sản chung gì và không vay nợ của ai, nên anh H không đề nghị Tòa án giải quyết.
Chị Ly Thị Ch đã bị Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai tuyên bố mất tích theo Quyết định số: 01/2018/QĐST- VDS, ngày 26/10/2018.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Hà phát biểu ý kiến như sau:
+ Về Tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Thư ký đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xây dựng hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của phiên tòa sơ thẩm, không vi phạm thủ tục tố tụng.
+ Về hướng giải quyết vụ án:
Về hôn nhân: Xét yêu cầu của anh Lù Văn H và những tài liệu chứng cứ nguyên đơn đã giao, nộp cho Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án. Anh H và chị Ch kết hôn và chung sống với nhau từ năm 2014. Đến tháng 01/2016 không biết vì lý do gì chị Ch đã bỏ nhà đi khỏi địa phương và Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai đã tuyên bố chị Ch mất tích, để đảm bảo cuộc sống sau này anh Lù Văn H đã làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với chị Ly Thị Ch. Theo khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình quy định “ Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn”. Vì vậy, đề nghị Tòa án chấp nhận đơn khởi kiện của anh Lù Văn H đề nghị giải quyết ly hôn với chị Ly Thị Ch.
Về tài sản chung: Không đề nghị giải quyết.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết thông báo thụ lý cho bị đơn chị Ly Thị Ch theo quy định tại Điều 196 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án ra thông báo phiên họp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thực hiện việc niêm yết tại nơi cư trú và trụ UBND xã Bản Phố, huyện Bắc Hà nơi chị Ch cư trú trước đây và niêm yết thông báo hoãn phiên họp việc kiểm tra việc giao nộp,tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, niêm yết thông báo kết quả phiên họp công khai chứng cứ theo quy định tại Điều 209 và Điều 210 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà đã ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và niêm yết Quyết định đưa vụ án ra xét xử, tại phiên tòa bị đơn vắng mặt không có lý do, nên đã ra Quyết định hoãn phiên tòa và ấn định ngày xét xử. Tiến hành niêm yết Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định. Tại phiên tòa hôm nay chị Ch vẫn không có mặt, nên áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự để giải quyết. Đối với anh Lù Văn H đã được triệu tập hợp lệ, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Lù Văn H và chị Ly Thị Ch kết hôn với nhau từ năm 2014, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Bản Phố, huyện Bắc Hà vào ngày 22/10/2014. Trong quá trình chung sống anh, chị sống hòa thuận hạnh phúc, không biết vì lý do gì chị Ch bỏ nhà đi khỏi địa phương từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 và mất tích từ đó đến nay không về nhà. Anh Lù Văn H đã làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc tuyên bố chị Ly Thị Ch mất tích. Tòa án nhân dân huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai đã ra Quyết định số: 01/2018/QĐST- VDS, ngày 26/10/2018 tuyên bố chị Ly Thị Ch mất tích. Ngày 03/12/2018 anh Lù Văn H làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Ly Thị Ch. Xét việc yêu cầu xin ly hôn của anh H là có cơ sở, phù hợp với quy định của khoản 2 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, nên cần chấp nhận giải quyết theo yêu cầu của anh H.
Về con chung: Quá trình chung sống giữa anh và chị Ch không có con chung, nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Do vậy, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về tài sản chung và các khoản nợ: Trong thời gian sống chung giữa anh và chị Ch không có tài sản chung gì và không vay nợ của ai, anh H không đề nghị Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Lù Văn H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Anh Lù Văn H và chị Ly Thị Ch được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:
1.Về quan hệ hôn nhân: Anh Lù Văn H được ly hôn với chị Ly Thị Ch.
2. Về án phí: Anh Lù Văn H phải chi ̣u 300.000 đồng (Ba trăm nghin đồng) tiền
̀ án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền ta ̣m ứ ng án phi dân sự sơ thẩm đa ̃
́ nô ̣p là 300.000 đồng theo biên lai số 0002301, ngày 03 tháng 12 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Hà.
Án xử công khai sơ thẩm Anh Lù Văn H và chị Ly Thị Ch vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc từ ngày niêm yết Bản án.
| Nơi nhận: - NĐ H; - BĐ Ch; - TAND tỉnh Lào Cai ; - VKSND tỉnh Lào Cai; - VKSND huyện Bắc Hà; - CCTHADS huyện Bắc Hà; - UBND xã B; - Lưu HS;THS;VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Kim Phƣơng Long Hải Dỉnh | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thọ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thọ |