- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn Huỳnh Thị Ngọc Y và bị đơn Ngô Nhân T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu hởi iện của chị Huỳnh Thị Ngọc Y đối với anh Ngô Nhân T về việc “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau hi ly hôn”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng d n sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng d n sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2019/HNGĐ-ST Ngày: 27-02-2019 V/v Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Liên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Tấn Phát;
2. Bà Nguyễn Thị Liễu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Vinh, Thư ý T a án nh n d n thành phố Tây Ninh, tỉnh T y Ninh.
- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân thành ph Tây Ninh, t nh Tây Ninh tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Tiểu Phương, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở T a án nh n d n thành phố T y Ninh xét xử sơ thẩm công hai vụ án thụ lý số: 707/2018/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2018 về việc “Tranh chấp thay đổi trực tiếp người nuôi con sau hi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2019, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Ngọc Y, sinh năm 1982.
Trú tại: đường CMTT, hu phố B, phường M, thành phố TN, tỉnh T y Ninh; Có mặt.
Bị đơn:Anh Ngô Nhân T, sinh năm 1982.
Trú tại: đường ĐBP, hu phố NT, phường NS, thành phố TN, tỉnh T y Ninh; Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 17 tháng 12 năm 2018 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Huỳnh Thị Ngọc Y trình bày:
Năm 2017 chị và anh Ngô Nhân T đã ly hôn theo Quyết định số 120/2017/QĐST-HNGĐ ngày 13/02/2017 của T a án nh n d n thành phố T y Ninh, tỉnh T y Ninh. Theo Quyết định này con chung Ngô Huỳnh A, sinh năm 2009; Ngô Huỳnh N, sinh năm 2011 đều giao cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng.
Từ hi ly hôn đến nay anh T không trực tiếp sinh sống cùng các con, không chăm sóc, hông chu cấp tiền ăn học, sinh hoạt cho các con. Cha mẹ ruột anh T là người trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục các con của anh chị.
Trong thời gian các con sống chung với ông bà nội chị đều thăm nom con vào thứ 7, chủ nhật hàng tuần, chu cấp tiền ăn học cho các con trong năm 2018.
Gần đ y cha ruột anh T sức hỏe yếu ém; mẹ ruột anh T dạy thêm ở nhà hông có thời gian để đưa rước, chăm lo cho các con chị. Đến ngày 20-12-2018 cha mẹ ruột anh T đã đề nghị chị đưa các con về nhà chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh T có biết sự việc này và đồng ý để chị nuôi dưỡng các con trong thời gian qua.
Hiện chị đang kinh doanh quán cafe thu nhập hoảng 10.000.000 đồng/tháng, có các hoản tiền hỗ trợ hác, có chỗ ở ổn đinh và thời gian chăm sóc các con chung. Hơn nữa các con đều có nguyện vọng được chung sống với chị.
Do đó chị yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Ngô Huỳnh A; Ngô Huỳnh N. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chị hông yêu cầu T a án giải quyết.
Theo bản tự khai ngày 08/01/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Ngô Nhân T trình bày:
Từ hi ly hôn đến nay các con đều ở với anh và cha mẹ ruột anh. Cha mẹ ruột anh là người trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục các con anh; chi phí sinh hoạt của các con đều do cha mẹ anh chi trả, anh chỉ hỗ trợ hi cần. Sau hi ly hôn với chị Y, gia đình anh vẫn tạo điều iện cho chị thường xuyên thăm nom, chăm sóc các con.
Gần đ y cha anh bị bệnh, có nhờ chị Y đưa rước các con đi học, buổi chiều các con đến nhà anh học chữ, buổi tối về nhà chị Y. Anh công tác tại Mặt trận Tổ quốc tỉnh T y Ninh, thu nhập trên 5.000.000 đồng/tháng nên chỉ hỗ trợ chi phí nuôi con hi cha mẹ anh yêu cầu.
Chị Y đã ết hôn với người nước ngoài, hông có điều iện chăm sóc các con trong hi đó các con vẫn sinh sống, học hành tốt hi ở với cha mẹ anh nên anh hông đồng ý giao cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng. Anh hông đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh:
+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng thời hạn, nội dung, thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng d n sự. Hội đồng xét xử, Thư ý phiên t a thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên t a d n sự. Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt Nội quy phiên t a.
+ Về nội dung: Căn cứ Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nh n và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí T a án:
Chấp nhận yêu cầu hởi iện của chị Huỳnh Thị Ngọc Y đối với anh Ngô Nhân T về việc “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau hi ly hôn”.
Buộc anh Ngô Nhân T giao con chung Ngô Huỳnh N, sinh ngày 19/01/2011; Ngô Huỳnh A, sinh ngày 26/6/2009 cho chị Huỳnh Thị Ngọc Y được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
Về thủ tục tố tụng: Chị Huỳnh Thị Ngọc Y hởi iện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau hi ly hôn đối với anh Ngô Nhân T, do anh T có địa chỉ cư trú tại phường NS, thành phố TN, tỉnh T y Ninh nên thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc T a án nh n d n thành phố T y Ninh, tỉnh T y Ninh theo quy định tại Khoản 3 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng d n sự.
Xét yêu cầu hởi iện của chị Huỳnh Thị Ngọc Y, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Chị Huỳnh Thị Ngọc Y và anh Ngô Nhân T đã thuận tình ly hôn theo Quyết định số 120/2017/QĐST-HNGĐ ngày 13/02/2017 của T a án nh n d n thành phố T y Ninh, tỉnh T y Ninh và thống nhất giao cháu Ngô Huỳnh N, sinh ngày 19/01/2011 và cháu Ngô Huỳnh A, sinh ngày 26/6/2009 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng.
Con chung cần giao cho cha hoặc mẹ trực tiếp nuôi dưỡng nhưng sau hi ly hôn anh T hông trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con mà giao toàn bộ trách nhiệm cho cha mẹ ruột anh, anh chỉ hỗ trợ hi cha mẹ có yêu cầu. Sau khi ly hôn, chị Y vẫn thực hiện nghĩa vụ thăm nom, hỗ trợ chi phí học hành cho các con. Tháng 12/2018 anh T và cha mẹ anh đã đồng ý giao các con cho chị Y chăm sóc, đưa rước các con đi học. Hiện nay chị Y đang ở Việt Nam, có chỗ ở, thu nhập ổn định, có thời gian chăm sóc các con. Các con đều là con gái và có nguyện vọng chung sống với chị Y nên việc giao các con chung cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với đặc điểm t m sinh lý của trẻ.
Do chị Y và anh T đều hông yêu cầu T a án giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con nên hông đặt ra giải quyết.
Từ những ph n tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Ngô Huỳnh N, Ngô Huỳnh A cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp về mọi mặt nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu hởi iện của chị Y.
Anh T phải chịu án phí hôn nh n và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nh n d n thành phố T y Ninh là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 3 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng d n sự 2015;
Căn cứ Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nh n và Gia đình năm 2014; Khoản 1, 2 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí T a án:
1. Chấp nhận yêu cầu hởi iện của chị Huỳnh Thị Ngọc Y đối với anh Ngô Nhân T về việc “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau hi ly hôn”.
Buộc anh Ngô Nhân T giao con chung Ngô Huỳnh N, sinh ngày 19/01/2011 và Ngô Huỳnh A, sinh ngày 26/6/2009 cho chị Huỳnh Thị Ngọc Y trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Ngô Nhân T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định pháp luật, hông ai được cản trở.
2. Về án phí: Anh Ngô Nhân T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí.
Chị Huỳnh Thị Ngọc Y được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số: 0006428 ngày 24/12/2018 của Chi cục thi hành án d n sự thành phố T y Ninh, tỉnh T y Ninh.
3. Về quyền háng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn háng cáo trong thời hạn 15 ngày ể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên t a hoặc hông có mặt hi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn háng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Ðiều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Ðiều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - PKTNV-TAND.TTN; -VKSND.TPTN; - CC.THADS TPTN; - Các đương sự; - Lưu HS, tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Bùi Thị Liên |