- Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân — án hôn nhân và gia đình — "Chị L yêu cầu chia nhà đất sau ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung sau khi ly hôn của chị Dương Thị L: Giao cho anh Dương Văn S sở hữu, quản lý, sử dụng toàn bộ tài sản chung của v ch ng trong th i kỳ hôn nhân g m: thửa đất số 950 (lô 1) t bản đ số 14, diện t ch 100 m2 tại thôn T, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Gian…
- Căn cứ chính? Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự
| Toµ ¸n nh©n d©n huyÖn T©n Yªn TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2019/HNGĐ-ST Ngày: 04/3/2019 V/v “Chia tài sản sau khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN – TỈNH BẮC GIANG
- Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hà Giang
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Anh Dũng
2. Ông Nguyễn Quốc Sửu
- Thư ký phiên toà: bà Dương Thị Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Kim Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 217/2018/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 08 năm 2018 về việc chia tài sản sau khi ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2019/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 01 năm 2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 12/QĐST-HPT ngày 01/02/2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Dương Thị L, sinh năm 1970 (có mặt)
- Bị đơn: anh Dương Văn S, sinh năm 1968 (vắng mặt)
Đều cư trú: thôn T, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 23 tháng 07 năm 2018 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn - chị Dương Thị L trình bày:
Chị và anh Dương Văn S kết hôn năm 1991, c đăng ký kết hôn tại UBND xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Sau khi cư i, chị về làm dâu gia đình anh S ngay, đư c 02 tháng thì v ch ng ra ở riêng, v ch ng chung sống tại thôn T, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Do quá trình sống chung v ch ng mâu thuẫn, bất đ ng quan điểm sống không thể chung sống đư c nên năm 2017, Tòa án nhân dân huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang đã giải quyết cho chị đư c ly hôn anh Dương Văn S b ng bản án số 07/2017/HNGĐ-ST ngày 29 tháng 3 năm 2017. Trong quá trình giải quyết ly hôn, chị và anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết về phần tài sản. Nay chị và anh S không tự thỏa thuận đư c v i nhau về việc phân chia tài sản chung nên chị yêu cầu Tòa án chia tài sản chung sau khi ly hôn g m thửa đất số 950 (lô 1) t bản đ số 14, diện t ch 100 m2 tại thôn T, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang đứng tên chủ sử dụng đất là anh Dương Văn S. Trên thửa đất n i trên chị và anh S c xây dựng đư c 01 ngôi nhà 02 tầng vào năm 2008. Chị yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết chia tài sản chung cho chị và anh S theo quy định của pháp luật.
Về nghĩa vụ chung về tài sản, ruộng canh tác: chị và anh S tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa chị L vẫn giữ nguyên ý kiến trên.
Tại bản tự khai đề ngày 05 tháng 9 năm 2018 và biên bản ghi l i khai ngày 05 tháng 9 năm 2018, biên bản ghi l i khai ngày 10 tháng 09 năm 2018 và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn - anh Dương Văn S trình bày:
Anh nhất tr v i trình bầy của chị L về th i gian kết hôn, th i gian chung sống và th i điểm giải quyết ly hôn. Anh cho biết từ năm 2003, chị L đi lao động tại Đài Loan và đến năm 2016 chị L về Việt Nam sinh sống và làm việc. Anh cho r ng trong quá trình chị L đi lao động tại Đài Loan, chị L không gửi tiền cho anh để xây dựng kinh tế gia đình. Trong th i kỳ hôn nhân v i chị L, anh đư c cơ quan c thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa số 950 (lô 1) t bản đ số 14, diện t ch 100 m2 tại thôn T, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Anh xác định thửa đất này là tài sản riêng của anh, anh là ngư i trực tiếp đấu giá quyền sử dụng đất và là ngư i nộp tiền cho Nhà nư c, chị L không có đ ng g p gì. Đối v i ngôi nhà 02 tầng đư c xây dựng trên thửa đất n i trên, anh cho r ng ngôi nhà này cũng là tài sản riêng của anh, do anh trực tiếp mua vật liệu xây dựng và thuê th xây nhà, chị L không gửi tiền về cũng như không c đ ng g p gì vào việc xây dựng ngôi nhà n i trên. Nay anh xác nhận thửa đất và ngôi nhà 02 tầng n i trên là tài sản riêng của anh, không phải tài sản chung của anh và chị L nên anh không đ ng ý yêu cầu khởi kiện của chị L.
Trong th i kỳ hôn nhân anh xác định anh và chị L c tạo dựng khối tài sản chung g m: số tiền chị L đi lao động tại nư c ngoài từ năm 2003 đến năm 2016. Trong quá trình đi lao động tại nư c ngoài chị L không hề gửi tiền về cho anh, không đ ng g p gì về kinh tế gia đình, tuy nhiên anh không cung cấp đư c cho Tòa án số tiền cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết là bao nhiêu cũng như các chứng cứ chứng minh cho ý kiến của anh. Ngoài ra anh S yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung là 01 thửa đất chị L mua của em trai ruột chị L là anh Dương Văn Tr, sinh năm 1973, trú tại thôn Đ, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Chị L mua của anh Triệu từ năm 2016 v i số tiền 650.000.000 đ ng. Anh yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung cho anh và chị L theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên anh S không làm đơn yêu cầu và cũng không cung cấp đư c cho Tòa án vị tr cụ thể thửa đất anh yêu cầu Tòa án chia là ở đâu, trị giá bao nhiêu tiền và không cung cấp đư c các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình.
Về nghĩa vụ chung về tài sản, ruộng canh tác: anh và chị L tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa anh S vắng mặt.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án theo đúng thẩm quyền, xác định mối quan hệ tranh chấp, những ngư i tham gia tố tụng đúng, đủ; tiến hành thu thập chứng cứ, tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ và hoà giải, tống đạt các văn bản tố tụng cho ngư i tham gia tố tụng, chuyển h sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của BLTTDS; HĐXX đảm bảo về thành phần, nguyên tắc xét xử; tại phiên toà HĐXX đã thực hiện đủ, đúng các quy định của BLTTDS về phiên tòa sơ thẩm; Thư ký chấp hành đúng quyền hạn, trách nhiệm theo quy định; Nguyên đơn có ý thức chấp hành các quy định của BLTTDS, bị đơn chưa c ý thức chấp hành các quy định của BLTTDS. Về nội dung vụ án, sau khi phân t ch Kiểm sát viên đề nghị HĐXX Chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia tài sản chung sau ly hôn của chị L. Giao cho anh S đư c quyền sở hữu, quản lý, sử dụng toàn bộ khối tài sản chung là 100m2 đất tại thửa đất số 950, t bản đ số 14 và 01 ngôi nhà 02 tầng diện tích 157m2 và toàn bộ tài sản trên đất tại thôn T, xã S, huyện T. Anh S phải trích chia cho chị L số tiền 380.481.000 đ ng. Anh S và chị L mỗi ngư i phải chịu 19.024.000 đ ng tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu tài liệu c trong h sơ vụ án đư c thẩm tra tại phiên toà, sau khi nghe ý kiến đề nghị của đương sự, Kiểm sát viên. Sau khi thảo luận nghị án, Hội đ ng xét xử thấy:
Về thẩm quyền: ngày 01 tháng 8 năm 2018, Tòa án nhân dân huyện Tân Yên thụ lý vụ án theo đơn khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung sau ly hôn của chị Dương Thị L v i bị đơn là anh Dương Văn S, sinh năm 1968, nơi cư trú: thôn T, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang là theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Về việc xét xử vắng mặt anh Dương Văn S: anh Dương Văm S đã đư c Tòa án triệu tập h p lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không c lý do. Vì vậy, Hội đ ng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh S là phù v i quy định tại khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét các yêu cầu của nguyên đơn thấy:
. Đối v i thửa đất số 950 (lô 1) t bản đ số 14, diện t ch 100 m2 tại thôn T, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang đứng tên chủ sử dụng đất là anh Dương Văn S. Chị L trình bày đây là thửa đất chị và anh S mua năm 2007, ngu n gốc là đấu giá khi Nhà nư c bán đất, anh S là ngư i trực tiếp đứng ra đấu giá và nộp tiền cho Nhà nư c, chị c gửi số tiền 60.000.000 đ ng về cho anh S để anh S để đ ng g p vào việc đấu giá quyền sử dụng đối v i thửa đất nói trên. Chị c gửi số tiền trên về cho anh S thông qua chị gái ruột chị là chị Dương Thị X trú tại thôn Ng, xã S và em trai chị là Dương Văn Tr. Tuy nhiên, theo ý kiến của anh S thì toàn bộ số tiền đấu giá quyền sử dụng đất đối v i thửa đất n i trên đều là tài sản riêng của anh, chị L không c đ ng g p gì. Hội đ ng xét xử thấy:
Tại biên bản làm việc ngày 22 tháng 02 năm 2019 đại diện UBND xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang cho biết thửa đất số 950 (lô 1) t bản đ số 14, diện t ch 100 m2 tại thôn T, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang đứng tên chủ sử dụng đất là anh Dương Văn S có ngu n gốc là đất ở đư c Nhà nư c giao do trúng đấu giá quyền sử dụng đất năm 2007. Anh Dương Văn S là ngư i trực tiếp đấu giá quyền sử dụng đất. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối v i thửa đất n i trên đư c thực hiện vào ngày 29/01/2008 cấp cho anh Dương Văn S là đại diện chủ sử dụng đất trong th i kỳ hôn nhân giữa chị L và anh S nên đây là tài sản chung của chị L, anh S. Mặt khác, anh Dương Văn Tr và chị Dương Thị X (BL62, 63) đều cung cấp vào năm 2007, chị L c gửi một số tiền về cho anh Tr và chị X qua Ngân hàng Nông nghiệp và nh anh Tr, chị X đưa lại cho anh S nộp tiền đấu giá quyền sử dụng đất đối v i thửa đất trên. Do th i gian đã lâu nên anh chị không nh cụ thể số tiền chị L gửi.
Tại th i điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gia đình anh S có 03 khẩu: anh Dương Văn S, chị Dương Thị L, anh Dương Văn L (con trai chị L, anh S). Tuy nhiên tại th i điểm này anh L còn nhỏ, không c đ ng g p gì vào việc xây dựng, phát triển kinh tế gia đình. Từ những căn cứ trên, Hội đ ng xét xử xác định thửa đất số 950 (lô 1) t bản đ số 14, diện t ch 100 m2 tại thôn T, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang là tài sản chung của chị L và anh S để chia.
Đối v i ngôi nhà 02 tầng kiên cố đư c xây dựng trên thửa đất số 950 (lô 1) t bản đ số 14, diện t ch 100 m2 tại thôn T, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang và nhà bếp, nhà vệ sinh bên trong ngôi nhà: theo l i trình bày của chị L, đây là ngôi nhà đư c xây dựng năm 2008. Do th i gian xây nhà chị đang lao động tại nư c ngoài nên chị đã nh em trai chị là Dương Văn Tr mua vật liệu xây dựng là xi măng, sắt; cửa ch nh chị nh em gái chị là Dương Thị V đặt mua của anh T ở thôn T, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang, cửa sổ và mái tôn chị thuê cháu rể chị là anh Nguyễn Ngọc N cư trú tại huyện Y, tỉnh Bắc Giang trực tiếp làm; gạch xây nhà, cát, sỏi, đá chị gửi tiền về cho anh S mua, chị không nh số tiền cụ thể chị gửi về cho anh S là bao nhiêu, do th i gian đã lâu nên chị không cung cấp đư c tài liệu, chứng cứ chứng minh cho Tòa án. Anh S là ngư i trực tiếp h p đ ng v i anh Dương Văn C ở cùng thôn v i nội dung anh C nhận khoán công trình và tự thuê th về để xây dựng ngôi nhà. Chị đã gửi tiền về cho anh S trả tiền cho anh C, do anh S trả còn thiếu 18 triệu tiền công cho anh C nên chị c liên lạc v i em trai chị là Dương Văn Tr trả tiền anh C giúp chị, và khi về nư c chị trả lại cho anh Tr.
Anh Dương Văn S cho r ng đây là ngôi nhà anh trực tiếp mua vật liệu xây dựng và thuê th xây nhà b ng tài sản riêng của anh, chị L không hề gửi tiền về cho anh xây nhà như chị L trình bày tại Tòa án. Anh là ngư i đứng ra mua vật liệu xây dựng; cửa ch nh, gạch lát nền, mái tôn, cửa sổ. Anh là ngư i trực tiếp h p đ ng xây nhà v i anh Dương Văn C ở cùng thôn. Anh đã trả tiền công xây nhà cho anh C khoảng 30 triệu đ ng. Anh xác định đây là tài sản riêng của anh nên anh không đ ng ý chia cho chị L.
Anh Nguyễn Văn T, trú tại thôn T, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang và anh Nguyễn Ngọc N, trú tại thôn L, xã T , huyện Y, Bắc Giang (BL 91, 93) đều xác nhận năm 2009, chị L c gọi điện thoại cho anh T và anh N để đặt hàng. Chị L thuê anh T làm cửa gỗ và lan can cầu thang b ng gỗ, còn anh N bắn mái tôn và làm chấn song cửa sổ. Chị Dương Thị V là em gái chị L đã trực tiếp đến nhà anh T và anh N để trả tiền. Anh Dương Văn C trú tại thôn T, xã S xác nhận năm 2008 anh S c thuê anh xây dựng ngôi nhà mà anh S đang quản lý, sử dụng hiện nay. Anh S đã trả anh số tiền 30.000.000 đ ng (Ba mươi triệu đ ng). Tại th i điểm xây nhà chị L đang đi lao động tại nư c ngoài nên anh chỉ làm việc trực tiếp v i anh S. Anh C xác nhận anh đã từng gọi điện thoại cho chị L yêu cầu chị L trả số tiền công th còn n và chị L đã nh anh Tr là em trai chị L đến trả anh hai lần: 1 lần trả 7.000.000 đ ng, còn 1 lần trả 5.000.000 đ ng (BL 92). Từ những căn cứ trên, Hội đ ng xét xử xác định ngôi nhà 02 tầng diện t ch mỗi tầng là 78,5 m2 tại thửa đất số 950 (lô 1) t bản đ số 14, tại thôn T, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang và nhà bếp, nhà vệ sinh bên trong ngôi nhà cùng v i 78,5 m2 mái tôn kèo sắt chống n ng tầng 2 là tài sản chung của chị L và anh S để phân chia.
Đối v i ý kiến của anh S là yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung v ch ng là số tiền chị L đi lao động tại nư c ngoài từ năm 2003 đến năm 2016 và chia tài sản chung là 01 thửa đất chị L mua của em trai ruột chị L là anh Dương Văn Tr, sinh năm 1973, trú tại thôn Đ, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang từ năm 2016 v i số tiền 650.000.000 đ ng. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã làm việc v i anh S yêu cầu anh S nếu c yêu cầu thì phải làm đơn và cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh yêu cầu của mình nhưng anh S không c đơn yêu cầu và không cung cấp đư c. Mặt khác, qua tra cứu sổ địa ch nh xã S, từ năm 2012 cho đến nay không thấy c thông tin về việc chuyển như ng quyền sử dụng đất giữa anh Dương Văn Tr và chị Dương Thị L nên HĐXX không đặt ra xem xét, giải quyết
Từ những căn cứ trên, HĐXX xác định tài sản chung của chị L, anh S để chia theo yêu cầu g m c : thửa đất số 950 (lô 1) t bản đ số 14, diện t ch 100 m2 tại thôn T, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang trị giá 300.000.000 đ ng; Tài sản trên đất g m: ngôi nhà 02 tầng diện t ch mỗi tầng là 78,5 m2 trị giá 417.180.400 đ ng, 01 nhà vệ sinh + 01 nhà bếp bên trong ngôi nhà 02 tầng trị giá 32.949.000 đ ng, 01 mái tôn kèo sắt chống n ng tầng 2 diện t ch 78,5 m2 trị giá 10.833.000 đ ng. Tổng trị giá nhà và đất là 760.962.400 đ ng (Bẩy trăm sáu mươi triệu chín trăm sáu mươi hai nghìn bốn trăm đ ng). Số tài sản này hiện do anh S đang quản lý, sử dụng và là ngư i c công sức trong việc tạo dựng và duy trì tài sản từ khi hình thành đến nay, chị L trong th i gian này đi xuất khẩu lao động và c đ ng g p tiền vào việc đấu giá quyền sử dụng đất và xây dựng ngôi nhà nên cần t nh công sức đ ng g p của hai bên để chia theo tỷ lệ anh S 60%, chị L 40% là phù h p. Do nhà đất này không thể phân chia b ng hiện vật cho cả hai bên và hiện anh S đang trực tiếp quản lý, sử dụng số tài sản chung này nên cần giao cho anh S đư c quyền sở hữu, quản lý, sử dụng nhà đất này và c trách nhiệm tr ch chia trị giá tài sản cho chị L b ng tiền là phù h p. Cụ thể số tiền anh S phải tr ch trả cho chị L là: 760.962.400 đ ng x 40% = 304.384.900 đ ng (Ba trăm linh tư triệu ba trăm tám mươi tư nghìn chín trăm đ ng).
Về nghĩa vụ chung về tài sản, ruộng canh tác: chị L, anh S không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét, giải quyết.
. Về chi ph định giá: chị L và anh S mỗi ngư i phải chịu chi ph định giá theo tỷ lệ trị giá tài sản đư c hưởng. Cụ thể anh S phải chịu là 3.000.000 đ ng x 60% = 1.800.000 đ ng, chị L phải chịu là 3.000.000 đ ng x 40% = 1.200.000 đ ng theo quy định tại khoản 2 Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị L đã nộp cả chi ph định giá nên anh S phải c trách nhiệm thanh toán trả cho chị L khoản tiền này.
. Về án ph : chị L, anh S phải chịu án phí chia tài sản chung sơ thẩm trên tổng số tiền đư c chia. Cụ thể chị L phải chịu là 304. 384.900 đ ng x 5% = 15.219.200 đ ng, anh S phải chịu án ph trên trị giá tài sản đư c chia là 456.577.400 đ ng = 20.000.000 đ ng + (56.577.400 đ ng x 4%) = 22.263.000 đ ng theo quy định tại khoản 2 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 17 Luật Ph và lệ ph , điểm b khoản 1 Điều 24 và điểm b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thư ng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.
. Về quyền kháng cáo: các đương sự c quyền kháng cáo bản án theo quy định tại điều 271 và khoản 1 điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 144; khoản 1 Điều 146, khoản 2 Điều 147, khoản 2 Điều 165, Điều 166, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 17 Luật Ph và lệ ph ; Điểm b khoản 1 Điều 24, điểm b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thư ng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án; các khoản 1, 2 và 3 Điều 59; điểm c khoản 2 Điều 62 Luật hôn nhân gia đình; Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, xử:
1. Chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung sau khi ly hôn của chị Dương Thị L: Giao cho anh Dương Văn S sở hữu, quản lý, sử dụng toàn bộ tài sản chung của v ch ng trong th i kỳ hôn nhân g m: thửa đất số 950 (lô 1) t bản đ số 14, diện t ch 100 m2 tại thôn T, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang trị giá 300.000.000 đ ng; Tài sản trên đất g m: ngôi nhà 02 tầng diện t ch mỗi tầng là 78,5 m2 trị giá 417.180.400 đ ng, 01 nhà vệ sinh + 01 nhà bếp bên trong ngôi nhà 02 tầng trị giá 32.949.000 đ ng, 01 mái tôn kèo sắt chống n ng tầng 2 diện tích 78,5 m2 trị giá 10.833.000 đ ng. Tổng trị giá nhà và đất là 760.962.400 đ ng (Bẩy trăm sáu mươi triệu ch n trăm sáu mươi hai nghìn bốn trăm đ ng). Anh S c trách nhiệm tr ch chia trả cho chị Dương Thị L số tiền là 304.384.900 đ ng (Ba trăm linh tư triệu ba trăm tám mươi tư nghìn ch n trăm đ ng).
2. Về chi ph định giá: Chị Dương Thị L phải chịu 1.200.000 đ ng, anh Dương Văn S phải chịu 1.800.000 đ ng chi ph định giá tài sản. Xác nhận chị L đã nộp đủ số tiền chi ph định giá. Anh S phải thanh toán hoàn trả chị L 1.800.000 đ ng chi ph định giá tài sản.
3. Về án phí: chị Dương Thị L phải chịu 15.219.200 đ ng tiền án ph chia tài sản chung sơ thẩm, đư c trừ vào 10.000.000 đ ng tiền tạm ứng án ph đã nộp tại biên lai thu số AA/2017/0002086 ngày 01 tháng 8 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên. Chị L còn phải nộp 5.219.200 đ ng án ph dân sự sơ thẩm.
Anh Dương Văn S phải chịu 22.263.000 đ ng tiền án ph chia tài sản chung sơ thẩm.
Nguyên đơn c mặt c quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn vắng mặt c quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đư c bản án hoặc bản án đư c niêm yết.
Kể từ ngày bản án c hiệu lực pháp luật và c đơn đề nghị thi hành án, nếu anh Dương Văn S không trả đủ tiền cho chị Dương Thị L thì anh S còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng v i th i gian chậm trả đối v i số tiền chậm trả cho đến khi trả xong.
Tr êng hîp b¶n ¸n ® îc thi hµnh theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 2 LuËt Thi hµnh ¸n D©n sù th× ng êi ® îc thi hµnh ¸n d©n sù, ng êi ph¶i thi hµnh ¸n D©n sù cã quyÒn tho¶ thuËn thi hµnh ¸n, quyÒn yªu cÇu thi hµnh ¸n, tù nguyÖn thi hµnh ¸n hoÆc bÞ cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự. Thêi hiÖu thi hµnh ¸n ® îc thùc hiÖn theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 30 LuËt Thi hµnh ¸n D©n sù./.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát Tân Yên; - Chi cục T.H.A Tân Yên; - Các đương sự; - UBND xã S; - Lưu h sơ; | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Nguyễn Hà Giang |