vanban.org

Bản án 03/2019/HNGĐ-PT — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

TAND tỉnh Đắk Nông Tuyên án 16/07/2019 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/07/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Trần Kim B. Giữ nguyên bản án số: 11/2018/HNGĐ-ST ngày 30-11-2018 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thanh H. 1 Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Thanh H và anh Trần Kim B thuận tình ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Trần Kim B. Giữ nguyên bản án số: 11/2018/HNGĐ-ST ngày 30-11-2018 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông.
  • Căn cứ chính? Điều 205 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2019/HNGĐ-PT
Ngày 16 - 7 - 2019
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Quốc Hương

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thuyên và ông Nguyễn Tài Sử

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Huế là Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông: Ông Nguyễn Hữu Cần - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 05/2019/TLPT-DS ngày 15 tháng 02 năm 2019 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

Do ản n H n nh n và gia đ nh sơ thẩm số: 11/2018/HNGĐ-ST, ngày 30 th ng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 15/2018/QĐ-PT, ngày 04tháng 3năm 2019, giữa c c đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thanh H; địa chỉ: Th n B, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk N ng.

Bị đơn: Anh Trần Kim B; địa chỉ: Th n B, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông.

Do có kh ng c o của ị đơn anh Trần Kim B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Lê Thị Thanh H trình bày:

Cuối năm 2014, chị và anh Trần Kim B sống chung với nhau như vợ chồng. Đến ngày 06-3-2015, chị và anh B kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông. Có 01 con chung là cháu Trần Kim M, sinh ngày 05-5-2015. Khoảng một năm sau anh chị mua đất, làm nhà tại thôn B, xã Q, huyện T. Đầu năm 2017, hai người phát sinh mâu thuẫn, anh B thường xuyên bạo lực gia đ nh, đ nh đập chị và đuổi chị ra khỏi nhà, chị cung cấp hình ảnh bị anh B đ nh đi nhập viện tại bệnh viện đa khoa huyện T, anh B đ nh chị ở ngoài đường đã ị Công an xã Q xử phạt hành chính. Chị và anh B sống ly thân từ đầu năm 2017 cho đến nay. Chị nhận thấy tình cảm đối với anh B không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn giữa chị với anh B.

- Về con chung: Cháu Trần Kim M, sinh ngày 05-5-2015 hiện nay đang ở với anh B do anh B đuổi chị ra khỏi nhà, ngăn cản không cho chị chăm sóc, nu i dưỡng con chung, chị H có nguyện vọng chăm sóc nu i dưỡng con chung cho đến khi con đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung vì lý do con còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ, anh B làm nghề dịch vụ âm thanh nên thường xuyên vắng nhà phải gửi con cho người khác hoặc dẫn con đi theo, mặt khác anh B có tính bạo lực gia đ nh nên kh ng đảm bảo việc chăm sóc tốt mọi mặt cho con.

- Về tài sản chung: Chị và anh B tự thỏa thuận về việc chia tài sản chung, có văn ản kèm theo gửi Tòa n và đề nghị công nhận sự thỏa thuận chia tài sản chung.

Bị đơn anh Trần Kim B trình bày: Về quan hệ h n nh n và con chung đúng như chị H trình bày, sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống hạnh phúc. Mâu thuẩn phát sinh là do chị H có lối sống cẩu thả, để nhà cửa bừa bộn, lời nói thiếu văn hóa, chị H chăm sóc con kh ng tốt bỏ con đi ra ngoài vào an đêm dẫn đến con bị co giật nên anh B có đ nh chị H. Anh đồng ý ly hôn với chị H.

- Về con chung: Anh đề nghị Tòa án giao con chung cháu Trần Kim B cho anh chăm sóc, nu i dưỡng, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung. Anh đưa ra chứng cứ làm nghề kinh doanh dàn nhạc, có thu nhập ổn định để nuôi con chung, anh cho rằng giao con cho chị H nuôi sẽ không tốt.

- Về tài sản chung: Anh B đồng ý với đề nghị của chị H.

Bản án số: 11/2018/HNGĐ-ST ngày 30-11-2018 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức đã quyết định: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 205, Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55, Điều 58, Điều 84 của Luật HN&GĐ năm 2014; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thanh H.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Thanh H và anh Trần Kim B thuận tình ly hôn.

Về con chung: Giao con chung là cháu Trần Kim M, sinh ngày 05-5-2015 cho chị Lê Thị Thanh H trực tiếp tr ng nom, chăm sóc, nu i dưỡng, giáo dục đến khi con chung đủ 18 (Mười tám) tuổi.

Về tài sản chung: Ghi nhận sự thỏa thuận về tài sản chung giữa anh Trần Kim B và chị Lê Thị Thanh H.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo của c c đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 13-12-2018, bị đơn anh Trần Kim B kháng cáo bản n sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại, giao con chung cháu Trần Kim M cho anh chăm sóc, nu i dưỡng đến khi đủ 18 tuổi.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn vẫn giữ nguyên nội dung như đã tr nh ày ở giai đoạn sơ thẩm và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu giao con chung cho anh chăm sóc, nu i dưỡng.

Đại diện Viện kiểm s t nh n d n tỉnh Đắk N ng tham gia phiên tòa phát iểu ý kiến với c c nội dung:

- Đơn kh ng c o của anh Trần Kim B trong hạn luật định, đã nộp tiền tạm ứng n phí phúc thẩm là đúng ph p luật.

- Việc tu n theo theo ph p luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng trong qu tr nh giải quyết vụ n ở giai đoạn phúc thẩm đều tu n thủ đúng tr nh tự thủ tục theo quy định của ph p luật.

- Về nội dung: Sau khi ph n tích, đ nh gi c c chứng cứ có trong hồ sơ, kết quả hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm s t nh n d n tỉnh Đắk Nông đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng d n sự, kh ng chấp nhận kh ng c o của anh Trần Kim B, giữ nguyên ản n số: 11/2018/HNGĐ-ST ngày 30-11-2018 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đối chiếu với c c quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

. Về quan hệ hôn nhân: Chị H thừa nhận không còn tình cảm với anh B và đã ly th n từ đầu năm 2017, anh B cũng thừa nhận không còn tình cảm với chị H nên anh chị đồng ý ly hôn. Xét thấy, chị H và anh B không còn chung sống với nhau, tình cảm vợ chồng không còn, tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, mục đích h n nh n kh ng đạt được. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận việc thuận tình ly hôn của chị H với anh B là phù hợp, đúng quy định pháp luật.

. Về con chung: Cháu Trần Kim M, sinh ngày 05-5-2015 là con chung của anh B và chị H. Hiện nay ch u M đang ở với anh B, tuy nhiên cả hai người đều có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nu i dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi, không bên nào yêu cầu cấp dưỡng việc nuôi con. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con nhằm đảm bảo c c điều kiện cho sự phát triển tốt về tinh thần, thể chất cũng như sự phát triển về tâm sinh lý giới tính nên đã quyết định giao cho chị H trực tiếp nu i dưỡng cháu Trần Kim M là phù hợp.

. Anh B kháng cáo cho rằng, bản án số: 11/2018/HNGĐ-ST ngày 30-11-2018 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức giao con cho chị H trực tiếp chăm sóc, nu i dưỡng là kh ng đảm bảo điều kiện tốt nhất cho con. Hội đồng xét xử xét thấy, anh B có hành vi bạo lực gia đ nh đã ị Công an xã Q xử phạt về hành vi này, anh B làm nghề kinh doanh dịch vụ âm thanh nên thường xuyên vắng nhà phải gửi con cho người khác, ngoài ra anh B còn cấp dưỡng nuôi con riêng của anh đang còn đi học. Ngược lại chị H chứng minh thu nhập làm nghề buôn bán rau ngoài chợ, hiện chị kh ng chăm sóc, nu i dưỡng ai, mặt khác con chung của anh chị còn nhỏ nên cần sự chăm sóc của người mẹ nhiều hơn. Theo kết quả xác minh tại Trường mầm non HM nơi ch u M học “cháu M đi học đầy đủ, về thể chất phát triển bình thường, về nhận thức thì cháu M nhận thức chậm hơn trả cùng lứa, hay chơi một mình, ít giao tiếp, chậm hòa nhập với các bạn cùng lứa, có dấu hiệu trầm cảm”. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm giao cháu M cho chị H chăm sóc, nu i dưỡng là phù hợp.

Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí phúc thẩm: Do kh ng c o kh ng được chấp nhận nên anh Trần Kim B phải chịu án phí phúc thẩm, trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Trần Kim B. Giữ nguyên bản án số: 11/2018/HNGĐ-ST ngày 30-11-2018 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông.

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 205, Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55, Điều 58, Điều 84 của Luật HN&GĐ năm 2014; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ an thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thanh H.

1.1 Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Thanh H và anh Trần Kim B thuận tình ly hôn.

1.2 Về con chung: Giao con chung là cháu Trần Kim M, sinh ngày 05-5-2015 cho chị Lê Thị Thanh H trực tiếp tr ng nom, chăm sóc, nu i dưỡng, giáo dục đến khi con chung đủ 18 (Mười tám) tuổi.

Anh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà kh ng ai được cản trở. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc tr ng nom, chăm sóc, nu i dưỡng, giáo dục con th người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện c c nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật H n nh n và gia đ nh; yêu cầu người không trực tiếp nu i con cùng c c thành viên gia đ nh t n trọng quyền được nuôi con của m nh. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đ nh kh ng được cản trở người không trực triếp nuôi con trong việc thăm nom,chăm sóc, nu i dưỡng, giáo dục con. Việc thay đổi người trực tiếp nu i con sau khi ly h n được thực hiện theo quy định tại Điều 84 của Luật Hôn nh n và gia đ nh.

1.3 Về tài sản chung: Ghi nhận sự thỏa thuận về tài sản chung giữa anh Trần Kim B và chị Lê Thị Thanh H.

1.3.1 Anh Trần Kim B được sở hữu 1/2 diện tích đất tại thửa đất số 112, tờ bản đồ 09 trong GCNQSD đất số CA 830357 do UBND huyện Tuy Đức cấp ngày 06-8-2015 mang tên chị Lê Thị Thanh H và anh Trần Kim B (đứng ở đường tỉnh lộ quay mặt vào nhà th đất anh B ở bên tay phải), tọa lạc tại thôn B, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông, diện tích đất có tứ cận: Phía Đ ng gi p đất bà H dài 80,16m; phía Tây giáp phần nhà chia cho chị H dài 10m; phía Nam giáp đường tỉnh lộ dài 3,5m; phía Bắc gi p đất còn lại chia cho anh B 3,5m.

Anh Trần Kim B được sở hữu 1/2 diện tích căn nhà tạm khung sắt, vách thưng t n, m i lợp tôn tọa lạc trên đất có tứ cận: Phía Đ ng gi p đất bà H dài 80,16m; phía T y gi p đất chia cho chị H dài 80m; phía Nam gi p đường tỉnh lộ dài 3,5m; phía Bắc gi p đất ông I dài 3,5m.

1.3.2 Chị Lê Thị Thanh H được sở hữu 1/2 diện tích đất tại thửa đất số 112, tờ bản đồ 09 trong GCNQSD đất số CA 830357 do UBND huyện Tuy Đức cấp ngày 06-8-2015 mang tên chị Lê Thị Thanh H và anh Trần Kim B (đứng ở đường tỉnh lộ quay mặt vào nhà th đất chị H ở bên tay trái), tọa lạc tại th n B, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông, diện tích đất có tứ cận: Phía Đ ng gi p đất chia cho anh B 80m; phía T y gi p đất anh V 80m; phía Nam gi p đường tỉnh lộ dài 3,5m; phía Bắc gi p đất ông I 3,5m.

Chị Lê Thị Thanh H được sở hữu 1/2 diện tích căn nhà tạm khung sắt, vách thưng t n, m i lợp tôn tọa lạc trên đất có tứ cận: Phía Đ ng gi p phần nhà chia cho anh B 10m; phía T y gi p đất anh V 10m; phía Nam gi p đường tỉnh lộ dài 3,5m; phía Bắc gi p đất còn lại chia cho chị H 3,5m.

Tại vị trí giữa, chạy dọc căn nhà có hàng cột sắt chịu lực chia đ i căn nhà thì mỗi ên được sở hữu 1/2 giá trị hàng cột, nếu bên nào tháo dỡ nhà thì phải để lại hàng cột này và bên kia phải trả lại giá trị hoặc thông báo cho bên kia dựng cột thay thế đảm bảo cho việc sử dụng căn nhà.

2. Về n phí sơ thẩm: Chị Lê Thị Thanh H phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí h n nh n gia đ nh sơ thẩm, được trừ vào số tiền 2.800.000đ (Hai triệu tám trăm ngàn đồng) chị H đã nộp tạm ứng theo biên lai số 0000637 ngày 15-3-2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Đắk Nông. Trả lại cho chị Lê Thị Thanh H số tiền 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí còn lại.

3. Về án phí phúc thẩm: Anh Trần Kim B phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí h n nh n gia đ nh phúc thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng anh B đã nộp theo biên lai số 0004621 ngày 13-12-2018, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Đắk Nông.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b, và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản n phúc thẩm có hiệu lực ph p luật kể từ ngày tuyên n.

Cỡ chữ