vanban.org

Bản án 03/2019/HAPT

TAND tỉnh Hòa Bình Tuyên án 08/01/2019 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/01/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 30/2018/HSST ngày 17/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi; Cụ thể: Giữ nguyên hình phạt tù và cho hưởng án treo. Giao bị cáo Bùi Văn T cho Ủy ban nhân xã Nuông Dăm, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Nếu tha… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Bùi Văn T - cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sun…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HOÀ BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2019/HSPT
Ngày: 08/01/2019
V/v: Cố ý gây thương tích

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HOÀ BÌNH

Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tßa: Bà Bạch Thị Hồng Hoa

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Dụ.

Bà Lý Thị Đoàn.

Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Vân Anh – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hoà Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Khôi - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 08/01/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hoà Bình mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 49/2018/TLPT - HS ngày 27/11/2018 do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 30/2018/HSST ngày 17/10/2018 của TAND huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49 /2018/QĐ – PT ngày 25/12/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình.

Bị cáo kháng cáo: Bùi Văn T, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Xóm Nuông Thượng, xã Nuông Dăm, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình; Nghề N: làm ruộng; trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Mường; Con ông Bùi Văn Biềng và bà Bùi Thị Hén. Vợ là Bùi Thị Vời, có 02 con (lớn sinh 2013, nhỏ sinh 2014); Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Hữu Doan – Trợ giúp viên pháp lý – trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hòa Bình.

Người bị hại không kháng cáo: Anh Bùi Văn N, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Xóm Báy, xã Sào Báy, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình.

Người bảo vệ quyền và lợi ích của người bị hại: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hòa Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 12/4/2018 sau khi ăn cơm, uống rượu, Bùi Văn T đến nhà anh ruột là Bùi Văn Viên cùng xóm. Tại nhà anh Viên có anh Viên, Bùi Văn Lê, Bùi Văn Hưng, Bùi Văn N đang chơi bài tú lơ khơ trên phản kê tại phòng khách. T xin chơi cùng, khi chơi chỉ có T và N chơi với nhau, hình thức bốc bài tú lơ khơ, ai bốc được lá bài cao hơn thì được hưởng số tiền 10.000đ từ người thua, số tiền thắng được dùng để mua bia tất cả cùng uống. Sau khi chơi được vài phút thì T thắng N 30.000đ. N hết tiền nên hỏi vay tiền Hưng để chơi tiếp nhưng Hưng không có. N nói “ Thôi, anh em mình nghỉ thôi”, liền lúc đó T nói “ Địt con mẹ mày, tao tưởng mày thế nào”. Nghe T nói vậy, N bực tức, đứng dậy dùng chân đạp vào ngực T một cái làm T ngã ngửa ra sau và rơi từ trên phản xuống đất. Anh Viên thấy vậy chạy vào nhà bếp gần đó cầm con dao, N thấy Viên cầm dao thì ngoảnh mặt lại xem, cùng lúc T nhìn thấy một vỏ chai bia bằng thủy tinh cao khoảng 30 cm, đường kính khoảng 08 cm dựng ở chân tường sát đó liền cầm lấy nhảy lên phản đứng đối diện N, dùng tay phải cầm cổ vỏ chai bia đập vào đầu trượt xuống vùng tai, cổ bên trái N, chai bia vỡ thành nhiều mảnh. N bị thương vùng đầu, tai, cổ và vai trái, chảy nhiều máu, được đưa đi cấp cứu. T bỏ chạy về nhà. Anh N phải điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình từ ngày 12 đến ngày 25/4/2018.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích của Trung tâm pháp y tỉnh Hòa Bình số 111/PY – GĐTT ngày 17/5/2018 kết luận: “ Chấn thương vùng đầu, mặt, cổ trái, vai trái, tay phải do vật tày và vật có cạnh tác động gây liệt dây thần kinh số VII ngoại biên, vết thương phần mềm. Đã được phẫu thuật điều trị, hiện tại còn méo miệng, nói ngọng và để lại nhiều vết sẹo trên cơ thể. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là : 22%”.

Vật chứng vụ án: Gồm nhiều vỏ thủy tinh màu xanh có kích thước, hình dạng không xác định. Cơ quan điều tra đã thu giữ và quản lý theo quy định.

Về dân sự: Người bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường 100 triệu đồng. Sau đó giữa bị cáo và người bị hại thỏa thuận bồi thường tổng số 79 triệu đồng. Bị cáo đã bồi thường được 29 triệu đồng cho người bị hại.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 30/2018/HSST ngày 17/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi quyết định: Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn T phạm tội Cố ý gây thương tích. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 BLHS; Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án.

Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại giữa bị cáo và người bị hại tổng số 79.000.000đ. Hiện đã bồi thường được 29.000.000đ. Còn phải bồi thường 50.000.000đ.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo.

Ngày 26/10/2018 bị cáo kháng cáo xin giảm hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo, xin được hưởng án treo.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Việc bị cáo gây thương tích cho người bị hại là phạm tội cố ý gây thương tích, nhưng trong vụ án này người bị hại cũng có lỗi khi đạp bị cáo ngã từ trên phản xuống đất. Gia đình bị cáo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, bị cáo có 02 con còn rất nhỏ, bố, mẹ già yếu, là hộ thuộc diện chính sách của địa phương nhưng đã cố gắng vay mượn để bồi thường cho người bị hại tổng số 49 triệu đồng. Thể hiện sự ăn năn hối cải của bị cáo. Hành vi của bị cáo là bột phát và người bị hại xin cho bị cáo được hưởng án treo. Đề nghị hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

Trợ giúp viên pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại trình bày: Vụ việc giữa bị cáo và người bị hại không phải là mâu thuẫn lớn mà chỉ vì một chút nóng giận nên phải đến phiên tòa phúc thẩm. Trợ giúp viên đồng ý như lời trình bày của luật sư, xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình phát biểu quan điểm: Quá trình giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Về nội dung: Bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội danh, mức hình phạt là đúng pháp luật. Không có căn cứ chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi cố ý gây thương tích cho anh N của bị cáo T xảy ra tại địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình. Tỷ lệ thương tích 22%, thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình theo quy định tại Điều 268; 269 bộ luật tố tụng hình sự. Ngày 17/10/2018 Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi xét xử vụ án. Ngày 26/10/2018 bị cáo kháng cáo. Đơn kháng cáo trong thời hạn luật định được chấp nhận.

Về nội dung: Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 12/4/2018 tại nhà Bùi Văn Viên, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong việc chơi bài, N bực tức, đứng dậy dùng chân đạp vào ngực T một cái làm T ngã ngửa ra sau và rơi từ trên phản xuống đất. T dùng vỏ chai bia bằng thủy tinh cầm lấy nhảy lên phản đứng đối diện N, dùng tay phải cầm cổ vỏ chai bia đập vào đầu trượt xuống vùng tai, cổ bên trái N. Gây chấn thương vùng đầu, mặt, cổ trái, vai trái, tay phải, gây liệt dây thần kinh số VII ngoại biên, vết thương phần mềm. Tỷ lệ thương tích 22%. Hành vi dùng hung khí nguy hiểm của bị cáo đã gây thương tích cho anh N đã phạm vào tội cố ý gây thương tích như bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo theo điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS, mức hình phạt 15 tháng tù là có căn cứ.

Bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo, xét thấy: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực bồi thường, khắc phục hậu quả cho người bị hại. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng xâu, vùng xa, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn được hưởng chính sách tại địa phương. Đây là các tình tiết giảm nhẹ cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Ngoài ra tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo có các tình tiết mới, đã bồi thường thêm cho người bị hại 20.000.000đ. Như vậy bị cáo đã bồi thường được 49.000.000đ ( trong tổng số 79.000.000đ thỏa thuận bồi thường), mặc dù điều kiện hoàn cảnh gia đình rất khó khăn. Người bị hại cũng có lỗi, đạp bị cáo trước, là nguyên nhân dẫn đến việc bị cáo hành xử như vậy. Bố bị cáo là ông Bùi Văn Biềng là người có công với cách mạng được nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự. Tại phiên tòa phúc thẩm người bị hại và trợ giúp viên pháp lý cho người bị hại cũng đề nghị hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo. Xét thấy không cần thiết phải bắt bị cáo vào trại thụ hình mà cho bị cáo hưởng án treo, cải tạo tại địa phương, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Có căn cứ chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo và đề nghị của luật sư, các trợ giúp viên pháp lý.

Các quyết định khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

2. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 30/2018/HSST ngày 17/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi; Cụ thể: Giữ nguyên hình phạt tù và cho hưởng án treo.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 BLHS; Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 15 ( Mười lăm) tháng tù về tội Cố ý gây thương tích nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 ( ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Bùi Văn T cho Ủy ban nhân xã Nuông Dăm, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Nếu thay đổi nơi cư trú thì phải thông báo cho chính quyền địa phương nơi giám sát, giáo dục bị cáo. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của BLHS.

Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo bồi thường thêm cho người bị hại 20.000.000đ. Bị cáo còn phải bồi thường tiếp cho anh Bùi Văn N 30.000.000đ ( Ba mươi triệu đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người phải thi hành không nộp đủ số tiền đã tuyên thì hàng tháng còn phải chịu khoản lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước quy định tại thời điểm thi hành án tương ứng số tiền chậm trả.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự, người thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ