vanban.org

Bản án 03/2018/KDTM-ST — Tranh chấp về mua bán hàng hóa

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015

Luật kinh doanh thương mại Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy Bn thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Mua bán hàng hóa"
  • Tòa quyết gì? Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THỦY
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2018/KDTM-ST
Ngày: 09/8/2018.
V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B, THÀNH PHỐ C

Với thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ánh.

Các hội thẩm nhân:

1. Huỳnh Văn Nhân;

2. Phan Ngọc Đáng.

Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hồng Châu – Thư ký Tòa án nhân dân quận B, thành phố C.

Ngày 09 tháng 8 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận B, thành phố C xét xử công khai vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số 08/2018/TLST-KDTM ngày 25/01/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 252/2018/QĐXXST-KDTM ngày 13 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:

NGUYÊN ĐƠN: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1966 – Chủ Doanh nghiệp tư nhân kinh doanh nông sản B (có mặt)

Sau đây gọi tắt là Doanh nghiệp B

Trụ sở: phường 11, thành phố C, tỉnh Đ.

BỊ ĐƠN: Công ty trách nhiệm hữu hạn C. (vắng mặt).

Trụ sở: Lô 19A6-1 Khu công nghiệp T, phường T, quận B, thành phố C.

Sau đây gọi tắt là Công ty C

Người đại diện theo pháp luật: ông Lê Đức C- Giám đốc công ty.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn là ông Nguyễn Văn B - Chủ doanh nghiệp tư nhân kinh doanh nông sản B trình bày:

Vào ngày 15/04/2017 giữa Doanh nghiệp B và Công ty C có ký kết hợp đồng kinh tế về việc mua bột cá biển. Theo các điều khoản trong hợp đồng thì Doanh nghiệp B cung cấp cho công ty C hàng hóa là bột cá biển, khối lượng 10.000 kg, đơn giá 21.000 đồng/ kg (hai mươi mốt ngàn đồng), tổng giá trị hàng hóa là 210.000.000 đồng (hai trăm mươi triệu đồng) và công ty C đã nhận đủ số lượng hàng như thỏa thuận. Ngày 11/4/2017 Doanh nghiệp B đã xuất hóa đơn giá trị gia tăng thông báo số tiền phải thanh toán của công ty C là 209.790.000 đồng (hai trăm lẻ chín triệu bảy trăm chín chục ngàn đồng). Tuy nhiên cho đến nay, công ty C vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán và vẫn còn nợ lại Doanh nghiệp B số tiền hàng hóa là 176.275.000 đồng. Nguyên đơn có đơn khởi kiện yêu cầu công ty C có trách nhiệm thanh toán số nợ trên, không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn C được triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt. Theo Công văn số 1541/ĐKKD ngày 01/4/2018 của Sở Kế hoạch và đầu tư thành phố C xác nhận bị đơn vẫn con trụ sở chính tại Lô 19A6-1 Khu công nghiệp T1, phường T, quận B, thành phố C. Tại thời điểm hiện tại, Công ty C chưa đăng ký thay đổi thêm hoặc lập thủ tục giải thể tại Phòng đăng ký kinh doanh.

Căn cứ vào các quy định của pháp luật nên Tòa án tiến hành thông báo xét xử theo thủ tục vắng mặt bị đơn theo luật định

Tại phiên tòa: nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn C tiếp tục vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Xét quan hệ pháp luật đây là vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa được pháp luật điều chỉnh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Tòa án triệu tập hợp lệ bị đơn rất nhiều lần nhưng bị đơn vắng mặt không rõ lý do. Tòa án đã tiến hành các thủ tục niêm yết và thông báo xét xử vắng mặt bị đơn theo đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc bị đơn thanh toán số nợ còn thiếu là 176.275.000 đồng (một trăm bảy mươi sáu triệu, hai trăm bảy mươi lăm ngàn đồng), không yêu cầu tính lãi từ ngày thiếu đến nay.

Phía bị đơn không có mặt, không cung cấp bất cứ tài liệu chứng cứ nào để Hội đồng xét xử xem xét. Căn cứ vào bản đối chiếu công nợ lập ngày 12/9/2017 và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cho thấy việc khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ để chấp nhận, yêu cầu trả nợ thanh toán tiền hàng hóa và không yêu cầu tính lãi suất từ ngày thiếu đến ngày xét xử sơ thẩm là hoàn toàn phù hợp với quy định.

Về án phí sơ thẩm: bị đơn phải chịu án phí theo quy định, nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điều 30,35,147, 227,273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015

- Luật kinh doanh thương mại

- Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy Bn thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

- Luật về phí và lệ phí.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B – Chủ Doanh nghiệp tư nhân kinh doanh nông sản B .

Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn C phải trả tiền hàng hóa chưa thanh toán cho Doanh nghiệp tư nhân kinh doanh nông sản B số tiền là 176.275.000đồng(một trăm bảy mươi sáu triệu hai trăm bảy lăm ngàn đồng)là dứt nợ.

Thực hiện việc trả tiền khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ khi án có hiệu lực và nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, trường hợp người có nghĩa vụ chậm thanh toán thì còn phải trả thêm lãi suất chậm trả theo mức lãi suất Nhà nước quy định tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

2/ Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

- Nguyên đơn ông Nguyễn Văn B được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.406.875 đồng (bốn triệu bốn trăm lẻ sáu ngàn tám trăm bảy mươi lăm đồng) theo biên lai thu số 008866 ngày 08/01/2018 tại Cơ quan Chi cục thi hành án dân sự quận B, thành phố C.

- Bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn C phải nộp 8.813.750 đồng (tám triệu tám trăm mười B ngàn bảy trăm năm chục đồng) án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự quận B.

Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án đối với nguyên đơn, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương, bị đơn được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố C giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ