- Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "hợp đồng mua bán"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần Đông Hải B
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03 /2018/KDTM-ST Ngày: 20-6-2018 V/v: Tranh chấp hợp đồng mua bán |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Dung
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phan Văn Dân
Bà Nguyễn Thị Ngọc Thơ
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Yến Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Phương – Kiểm sát viên
Ngày 20 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2017/TLST-KDTM ngày 22 tháng 5 năm 2017 về tranh chấp “Hợp đồng mua bán” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2018/QĐXXST-KDTM ngày 7 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty cổ phần Đông Hải B
Có ông Lê Bá P. Chức vụ: Tổng giám đốc là đại diện theo pháp luật
Địa chỉ: Lô AIII, Khu dân cư Giao Long, xã An Phước, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre
Ông Lê Bá P ủy quyền cho bà Nguyễn Ngọc Tố U theo giấy ủy quyền số 11/UQ-CTHĐ ngày 18/6/2018
Trụ sở: Số 487/C6, Khu Phố 2, Đường N, Tp.B, tỉnh Bến Tre
-Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn sản xuất thƣơng mại dịch vụ T
Trụ sở: Số 478, Quốc Lộ 91, ấp H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang
Đại diện theo pháp luật: Bà N T H T – Tổng giám đốc (theo giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, đăng ký thay đổi lần thứ 18 ngày 04/8/2016) (vắng mặt)
Ngƣời có quyền và nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Thái S, sinh năm: 1960 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số 25/33, Trần Hưng Đạo, khóm T, Phường M, Thành phố L, tỉnh An Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai cùng ngày 02/3/2017 trong quá trình xét xử và lời khai trƣớc phiên tòa hôm nay đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có bà Nguyễn Ngọc Tố U trình bày
Ngày 12/5/2016 Công ty cổ phần Đông Hải B và Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất – Thương mại – Dịch vụ T (gọi tắt là Công ty T) có ký kết hợp đồng kinh tế số 088/ĐHBT/2016. Về đối tượng hợp đồng: Công ty cổ phần Đông Hải B bán cho Công ty T các loại thùng carton 5 lớp…theo yêu cầu của từng đơn đặt hàng do Công ty Thuận An lập và gởi cho Công ty cổ phần Đông Hải B. Giá trị thanh toán dựa trên từng đơn hàng và đơn hàng được xem là phụ lục không thể tách rời của hợp đồng
Về phương thức thanh toán: Tại Điều 4 của hợp đồng nêu rõ: Công ty T thanh toán cho Công ty cổ phần Đông Hải B bằng chuyển khoản trong thời gian 30 ngày, kể từ ngày nhận hàng và nhận đầy đủ hóa đơn tài chính. Nếu quá thời hạn thanh toán thì Công ty T phải chịu lãi suất phạt theo quy định của Ngân hàng nhà nước cho Công ty cổ phần Đông Hải B trên số công nợ chậm trả, thời gian chậm trả không quá 10 ngày trể hạn. Tuy nhiên, Công ty Cổ phần Đông Hải B đã nhiều lần đề nghị thanh toán, đồng thời cử cán bộ trực tiếp đến Công ty T để thu hồi nợ, nhưng Công ty T vẫn không thanh toán số công nợ trên cho công ty Cổ phần Đông Hải B. Do Công ty T vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng nên Công ty cổ phần Đông Hải B yêu cầu tính lãi chậm thanh toán với số tiền là: 50.510.724 đồng. Tại phiên tòa hôm nay Công ty cổ phần Đông Hải B chỉ yêu cầu Công ty T trả số tiền lãi chậm trả là 50.510.724 đồng tính đến ngày 02/3/2017, không yêu cầu tính lãi phát sinh thêm cho đến ngày xét xử.
Nay Công ty cổ phần Đông Hải B yêu cầu Tòa án buộc Công ty T thanh toán cho Công ty cổ phần Đông Hải B số tiền vốn theo hóa đơn +lãi tổng cộng là 1.579.261.794đ (Một tỷ năm trăm bảy mươi chín triệu hai trăm sáu mươi mốt ngàn bảy trăm chín mươi bốn đồng) trong đó số tiền vốn theo hóa đơn là 1.528.751.070 đồng+ lãi 50.510.724 đồng
Đối với bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất – Thương mại – Dịch vụ T: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt và niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý, các thông báo về phiên họp kiểm tra về việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo về việc thu thập được tài liệu, chứng cứ và thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất – Thương mại – Dịch vụ T vẫn vắng mặt các buổi phiên họp giao nộp chứng cứ và hòa giải vẫn vắng mặt không có lý do. Tòa án tiến hành xác minh đối với công ty T. Tại biên bản xác minh ngày 20/12/2017 được ông Hoàng Hữu T – Phó Giám đốc Công ty T cho biết công ty có 2 thành viên là bà Nguyễn Thị Huệ T và ông Nguyễn Thái S, bà Nguyễn Thị Huệ T là người đại diện theo pháp luật của công ty. Vào tháng 11 năm 2016 bà T và ông S đi công tác ở nước ngoài rồi không về công ty. Hiện công ty T vẫn còn hoạt động để duy trì máy móc và đảm bảo việc làm cho người lao động, tài sản đã bị kê biên nên lợi nhuận thu được do ngân hàng thu giữ. Tòa án tiến hành xác minh nơi đăng ký hộ khẩu của ông Nguyễn Thái S và bà Nguyễn Thị Huệ T thì được biết ông S và bà T vẫn còn hộ khẩu tại Số 25/33, Trần Hưng Đạo, khóm T, Phường M, Thành phố L, An Giang. Do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt Công ty T theo quy định pháp luật
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu quan điểm cho rằng: Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nguyên đơn đã chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông S đã không chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, kết quả việc hỏi tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến là chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả số tiền mua bán còn thiếu lại +tiền lãi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ t c tố t ng:
- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Công ty cổ phần Đông Hải B có đơn khởi kiện về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa và yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Châu Thành nơi có trụ sở của bị đơn Công ty T giải quyết. Theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
- Về nơi cư trú của bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất – Thương mại – Dịch vụ T có trụ sở tại thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang. Ngày 07/3/2018 Công an phường M, thành phố L, tỉnh An Giang xác nhận ông Nguyễn Thái S và bà Nguyễn Thị Huệ T có đăng ký hộ khẩu tại phường M, thành phố L, tỉnh An Giang nhưng hiện nay không có mặt tại địa phương, khi đi không trình báo cho chính quyền địa phương biết nơi cư trú mới biết theo quy định tại khoản 3 Điều 40 Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, Tòa án xác định nơi cư trú cuối cùng của ông S và bà T và tiến hành niêm yết các thông báo, quyết định tố tụng cho bị đơn tại địa chỉ các đương sự đã cung cấp là số 478 Quốc lộ 91, ấp H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang và cho ông S , bà T tại số nhà 25/33, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang và đúng theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
- Bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất – Thương mại – Dịch vụ T do bà Nguyễn Thị Huệ T đại diện theo pháp luật và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thái S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với bị đơn và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Về nội dung tranh chấp:
Căn cứ vào hợp đồng kinh tế số 088/ĐHBT/2016 ngày 12/5/2016 thì Công ty cổ phần Đông Hải B nhận gia công nhiều loại bao bì cho công ty T. Trong quá trình thực hiện giao dịch mua bán, Công ty T còn nợ Công ty cổ phần Đông Hải B số tiền 1.528.751.070 đồng. Tại biên bản xác minh đối với Công ty T ngày 20/12/2017 được ông Hoàng Hữu T – Phó Giám đốc Công ty T cũng thống nhất số tiền Công ty T hiện còn đang nợ Công ty cổ phần Đông Hải B đúng theo bảng đối chiếu công nợ ngày 31/12/2016
Xét về nội dung tranh chấp trên Hội đồng xét xử nhận thấy: Công ty cổ phần Đông Hải B đã thực hiện xong phần nghĩa vụ của mình là giao hàng hóa với mặt hàng, số lượng, chất lượng, qui cách đúng theo thỏa thuận tại hợp đồng và theo yêu cầu từng lần đặt hàng của công ty T, tuy nhiên phía Công ty T không thực hiện thanh toán tiền theo thỏa thuận. Công ty T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền mua hàng và thời hạn thanh toán theo Điều 50, Điều 55 Luật Thương mại. Việc vi phạm này đã ít nhiều làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty cổ phần Đông Hải B. Do đó, Công ty cổ phần Đông Hải B quyền yêu cầu bị đơn phải thanh toán số tiền còn nợ theo các hóa đơn là 1.528.751.070 đồng là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp với pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về phần lãi suất: Tại Điều 4 của hợp đồng nêu rõ “ Công ty T thanh toán cho Công ty cổ phần Đông Hải B bằng chuyển khoản trong thời gian 30 ngày, kể từ ngày nhận hàng và nhận đầy đủ hóa đơn tài chính. Nếu quá thời hạn thanh toán thì Công ty T phải chịu lãi suất phạt theo quy định của Ngân hàng nhà nước cho Công ty cổ phần Đông Hải B trên số công nợ chậm trả, thời gian chậm trả không quá 10 ngày trể hạn” .Do Công ty T vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng nên Công ty cổ phần Đông Hải B yêu cầu tính lãi chậm trả theo hợp đồng của các hóa đơn với số tiền 50.510.724đồng. Tại phiên tòa hôm nay đại diện Công ty cổ phần Đông Hải B không yêu cầu tính lãi phát sinh thêm cho đến ngày xét xử. Đây là sự tự nguyện của Công ty cổ phần Đông Hải B và có lợi cho phía bị đơn nghĩ nên chấp nhận.
Như vậy, Công ty T có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty cổ phần Đông Hải B số tiền vốn theo hóa đơn, lãi suất tổng cộng là 1.579.261.794đ (Một tỷ năm trăm bảy mươi chín triệu hai trăm sáu mươi mốt ngàn bảy trăm chín mươi bốn đồng)
Về án phí sơ thẩm: Theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần Đông Hải B được chấp nhận nên được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất – Thương mại – Dịch vụ T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều: 30, 35, 39,147, 227, 228, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Điều 305 Bộ luật dân sự năm 2005, Khoản 1 Điều 24, Điều 50, Điều 55, Luật Thương mại năm 2005; Khoản 3 Điều 40 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần Đông Hải B
Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất – Thương mại – Dịch vụ T có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty cổ phần Đông Hải B số tiền vốn theo hóa đơn +lãi tổng cộng là 1.579.261.794đ (Một tỷ năm trăm bảy mươi chín triệu hai trăm sáu mươi mốt ngàn bảy trăm chín mươi bốn đồng) trong đó số tiền vốn theo hóa đơn là 1.528.751.070 đồng+ lãi 50.510.724 đồng
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về án phí:
Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất – Thương mại – Dịch vụ T phải chịu 59.376.000đ (Năm mươi chín triệu ba trăm bảy mươi sáu ngàn đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định.
Hoàn trả cho Công ty cổ phần Đông Hải B số tiền 29.688.000đ (Hai mươi chín triệu sáu trăm tám mươi tám ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0000654 ngày 22/5/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
Về kháng cáo: Công ty cổ phần Đông Hải B được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (20/6/2018). Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất – Thương mại – Dịch vụ T và ông Nguyễn Thái S vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ khi nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang; - Phòng kiểm tra nghiệp vụ và thi hành án; - Lưu hồ sơ; - Lưu văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Thị Mỹ Dung |