vanban.org

Bản án 03/2018/KDTM-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

của Bộ luật Tố tụng dân sự;

[1] Chấp nhận đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCPC. Buộc ông Nguyễn Ngọc H, bà Đặng Thị Thanh T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCPC – Thông qua chi nhánh G Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tiền"
  • Tòa quyết gì? của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƢ PƢH
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2018/KDTM-ST
Ngày 30-01-2018
“V/v; Tranh chấp về hợp đồng
tín dụng”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PƯH TỈNH GIA LAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Nam Trung.

- Các hội thẩm Nhân dân:

1/ Ông: Phạm Văn Nhung.

2/ Bà: Nguyễn Thanh Thắm.

- Thư ký phiên toà: Ông Phan Bình , Cán bộ Toà án Nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai..

- Đại diện Viện kiểm sát N

Pưh tham gia phiên tòa: không.

Ngày 30 tháng 01 năm 2018

–

18/2017/TLST – KDTM, ngày 07 tháng 11 năm 2017; về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2017/QĐST – KDTM, ngày 25 tháng 12 năm 2017 và Quyết định Hoãn Phiên tòa số: 01/2018/QĐST-KDTM ngày 10 tháng 01 năm 2018, giữa các đương sự:

1.

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP C; Do ông

– giám đốc Ngân hàng TMCP C–

- Đại diện theo văn bản ủy quyền số 515/UB – HĐQT – NHCT18, ngày 01/6/2017 của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam: (Ngân hàng).

Địa chỉ: 01 Tr

, tỉnh Gia Lai.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1981. Vắng mặt lần thứ hai tại

phiên tòa.

3.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vụ án: bà Đặng Thị Thanh T,

sinh năm 1987. Vắng mặt lần thứ hai tai phiên tòa.

, huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai cũng như tại phiên tòa hôm nay; Đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCPCtrình bày:

Ngân hàng TMCPC– Chi nhánh G(Sau đây gọi tắt là Ngân hàng) cho ông Nguyễn Ngọc H vay vốn tại hợp đồng tín dụng số: 279/2016-HĐTDNHCT500 ngày 30/3/2016 (hợp đồng vay mới)và hợp đồng tín dụng số: 1245/2016-HĐTDNHCT500 ngày 29/9/2016 (hợp đồng vay đáo hạn) cụ thể như sau:

- Số tiền vay: 450.000.000đ ;

Món vay 250.000.000đ, ngày nhận nợ 30/3/2016 số tiền 250.000.000đ, thời hạn trả gốc 12 tháng (từ ngày 30/3/2016 đến ngày 30/3/2017), trả lãi hàng tháng vào ngày 24 hàng tháng.

Món vay 200.000.000đ, ngày nhận nợ 29/9/2016 số tiền 200.000.000đ, thời hạn trả gốc 12 tháng (từ ngày 29/9/2016 đến ngày 29/9/2017), trả lãi hàng tháng vào ngày 24 hàng tháng.

Dư nợ gốc đến ngày khởi kiện 450.000.000đ; nợ lãi đến ngày khởi kiện 20.045.972 đ. Mục đích vay vốn xây tường rào sân phơi và hệ thống tưới tiêu.

Đến thời hạn trả nợ gốc, lãi vay ông H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, do đó toàn bộ khoản nợ tại Hợp đồng tín dụng số: 279/2016-HĐTDNHCT500 ngày 30/3/2016 và 1245/2016-HĐTDNHCT500 ngày 29/9/2016 giữa Ngân hàng và ông H đã bị quá hạn theo quy chế cho vay của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ngân hàng TMCPC; vì vậy Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn.

Để đảm bảo cho khoản tiền vay trên ông Nguyễn Ngọc H, bà Đặng Thị Thanh T có thế chấp bằng tài sản theo hợp đồng thế chấp tài sản số 279/HĐTC ngày 29/3/2016/ và hợp đồng thế chấp tài sản số 27466/HĐTC ngày 15/9/2014.

Hợp đồng thế chấp tài sản đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo qui định của pháp luật để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ đối với số tiền vay.

Tài sản thế chấp bao gồm:

- Giá trị quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất tại thôn Tao

Cho B, xã Ia Hrú, huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai.

BV 739462 do UBND huyện Chư Pưh cấp ngày 23/3/2015, thuộc thửa

đất số 93c, tờ bản đồ số 52; diện tích đất 256 m2, trong đó diện tích đất ở

100m2, diện tích đất TCLN 156M2.

- Giá trị quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất tại thôn Lũ

Ngó, xã Ia Hrú, huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai.

260038 do UBND huyện Chư Pưh cấp ngày 27/8/2014, thuộc thửa đất số

10b, tờ bản đồ số 50; diện tích đất TCLN 5,997.2 m2.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng ông Hải đã vi phạm hợp đồng tín dụng số 279/2016 ngày 30/3/2016 và hợp đồng tín dụng số 1245/2016 ngày 29/9/2016.

Ngày 31/3/2017 toàn bộ số tiền vay của ông Hải đã chuyển sang nợ quá hạn theo quy chế cho vay, qui định phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng theo qui định của Thống đốc NHNN Việt Nam.

Ngân hàng TMCPCkhởi kiện ông Nguyễn Ngọc H, bà Đặng Thị Thanh T ra Toà án Nhân dân huyện Chư Pưh và đề nghị Toà án giải quyết như sau: yêu cầu ông H , bà T phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCPC ; thông qua Ngân hàng TMCPC – Chi nhánh G với tổng số tiền là: 506.675.971 đ.

Trong đó: Nợ gốc: 450.000.000đ; Nợ lãi tạm tính đến ngày xét xử (ngày 30/01/2018): 56.675.971đ (lãi trong hạn 41.510.951, lãi quá hạn 15.165.000đ).

– Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vụ án bà Đặng Thị Thanh T bà T

không có mặt. Còn ông H thừa nhận ông có vay nợ đúng như số tiền mà Ngân hàng khởi kiện, nhưng vì điều kiện quá khó khăn, cây tiêu thì chết hết nên ông chưa trả nợ được cho Ngân hàng. Việc vay nợ là do tôi ký vay nợ với Ngân hàng, còn chị T chỉ là người có liên quan trong việc thế chấp tài sản.

hợp lệ đối với ông H, bà T

ông H, bà T

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền, ông Nguyễn Ngọc H có ký hợp đồng vay vốn với Ngân hàng TMCPC, thông qua chi nhánh G vào ngày 30/3/2016 và ngày 19/9/2016, do đó có cơ sở xác định giữa ông H và Ngân hàng có giao kết hợp đồng dân sự, nên quan hệ tranh chấp được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Ông H , bà Ttrú tại thôn T, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Căn cứ khoản 01 Điều 30, điểm a khoản 01 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai.

[2] Tòa án đã thực hiện việc tống đạt đúng theo quy định của pháp luật, triệu tập các bên đến tham gia phiên tòa nhưng phía bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vụ án vẫn vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng. Do đó căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hánh xét xử vắng mặt đương sự.

[3] về nội dung vụ án;

Ngân hàng TMCP C – Chi nhánh G có cho ông H vay vốn tại hợp đồng tín dụng số: 279/2016-HĐTDNHCT500 ngày 30/3/2016 và hợp đồng tín dụng số: 1245/2016 - HĐTDNHCT500 ngày 29/9/2016 cụ thể như sau:

Tổng số tiền vay: 450.000.000đ ; trả lãi vào ngày 24 hàng tháng.

Dư nợ gốc đến ngày khởi kiện 450.000.000đ; nợ lãi đến ngày xét xử

56.675.971 đ.

Đến thời hạn trả nợ gốc, lãi vay ông Hải đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, do đó toàn bộ khoản nợ tại Hợp đồng tín dụng số: 279/2016-HĐTDNHCT500 ngày 30/3/2016 và hợp đồng tín dụng số 1245/2016-HĐTDNHCT500 ngày 29/9/2016 giữa Ngân hàng và ông Hải đã bị quá hạn theo quy chế cho vay của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ngân hàng TMCPC; vì vậy Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn.

Để đảm bảo cho khoản tiền vay trên ông Nguyễn Ngọc H , bà Đặng Thị Thanh T có thế chấp bằng tài sản theo hợp đồng thế chấp tài sản số 279/HĐTC ngày 29/3/2016/ và hợp đồng thế chấp tài sản số 27466/HĐTC ngày 15/9/2014/.

Hợp đồng thế chấp tài sản đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo qui định của pháp luật để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ đối với số tiền vay.

Tài sản thế chấp bao gồm:

- Giá trị quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất tại thôn Tao

Cho B, xã Ia Hrú, huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai.

BV 739462 do UBND huyện Chư Pưh cấp ngày 23/3/2015, thuộc thửa

đất số 93c, tờ bản đồ số 52; diện tích đất 256 m2, trong đó diện tích đất ở

100m2, diện tích đất TCLN 156M2.

- Giá trị quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất tại thôn Lũ

Ngó, xã Ia Hrú, huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai.

260038 do UBND huyện Chư Pưh cấp ngày 27/8/2014, thuộc thửa đất số

10b, tờ bản đồ số 50; diện tích đất TCLN 5,997.2 m2.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng ông H đã vi phạm hợp đồng tín dụng số 279/2016 ngày 30/3/2016 và hợp đồng tín dụng số 1245/2016 ngày 29/9/2016, có thái độ thiếu thiện chí hợp tác với Ngân hàng. Căn cứ vào các điều khoản đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng và ông H, bà T. Nên Ngân hàng TMCPC khởi kiện ông Nguyễn Ngọc H, bà Đặng Thị Thanh T ra Toà án Nhân dân huyện Chư Pưh và đề nghị Toà án giải quyết, yêu cầu ông H, bà T phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCPC; Thông qua Ngân hàng TMCPC – Chi nhánh G với tổng số tiền là: 506.675.971đ. Trong đó: Nợ gốc: 450.000.000đ; Nợ lãi tạm tính đến ngày xét xử (ngày 30/01/2018): 56.675.971đ (lãi trong hạn 41.510.951, lãi quá hạn 15.165.000đ) là có căn cứ.

gân hàng và ông Nguyễn Ngọc H, bà Đặng Thị Thanh T là

rong quá trình thực hiện hợp đồng, khi đến hạn trả nợ các khoản nợ gốc và lãi nhưng ông Hải

yêu cầu ông H, bà T

.000đ và Nợ lãi tạm tính đến ngày xét xử (ngày 30/01/2018)là 56.675.971đ trong đó (lãi trong hạn 41.510.951, lãi quá hạn 15.165.000đ) là

Trong trường hợp ông H, bà T

, bà T

[4] Về án phí: Xử buộc ông Nguyễn Ngọc H, bà Đặng Thị Thanh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 30; 227;

của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng khoản 1 Điều 281; 320; 357; 463, 466 và Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Tuyên bố:

[1] Chấp nhận đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCPC.

- Buộc ông Nguyễn Ngọc H, bà Đặng Thị Thanh T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCPC – Thông qua chi nhánh G

450.000.000đ, tiền lãi là 56.675.971đ; Tổng cộng 506.675.971đ .

“Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.”

[2] Về án phí:

Áp dụng Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

- Buộc ông Nguyễn Ngọc H, bà Đặng Thị Thanh T phải chịu án phí DSST; [20.000.000đ + (106.675.971đ x 4%)] = 24.267.038 đ.

- Ngân hàng TMCPC – Chi nhánh Gđược nhận lại số tiền tạm ứng án phí 11.400.900đ đã nộp tại biên lại thu tiền tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số 0000503, ngày 06/11/2017, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chư Pưh.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án,

có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi nhĩa vụ liên quan vụ án có quyền kháng cáo bản án phần có liên quan kể từ ngày được giao hoặ

n lên Tòa án Nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu phúc thẩm.

Cỡ chữ