vanban.org

Bản án 03/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 10/01/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Cố ý gây thương tích”; bị cáo Nguyễn Chí C phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

* Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 590 c a Bộ luật dân sự, xử: Buộc bị cáo Nguyễn Hữu T b i thường cho bị hại Lê Thanh G 4.000.000 đ ng (Bốn triệu đồng), b i thường cho bị hại Lê Thanh S 1.500.000 đ ng (Một triệu năm trăm nghìn đồng), b i thường cho bị hại Lê Trường An 1.500.000 đ ng (M… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu T, Nguyễn Chí C - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Tòa quyết gì? * Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Cố ý gây thương tích”; bị cáo Nguyễn Chí C phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 590 Bộ luật Dân sự; Điều 7 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2018/HSST
Ngày: 10 - 01 - 2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Yến

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Lệ

2. Bà Chung Kim S

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Nguyên Hƣng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố R, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Giang – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố R xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 51/2017/HS-ST ngày 27 tháng 11 năm 2017 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Hữu T, sinh năm: 1989; tại: R, tỉnh Kiên Giang.

Nơi đăng ký HKTT: Ấp P, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở: Số 334/16 đường N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; số CMND: 371268422; nghề nghiệp: Bảo vệ; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; con ông Nguyễn Hữu M và bà Nguyễn Thị Lệ Th (chết); em ruột có 01 người; tiền sự: chưa; tiền án: chưa; bị bắt ngày 24/8/2017 theo quyết định truy nã (trong vụ án khác) và bị tạm giữ, tạm giam cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Chí C, sinh ngày: 01/4/1997; tại: C, tỉnh An Giang.

Tên gọi khác: C Mập.

Nơi đăng ký HKTT: Khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; Chỗ ở: Số 31 đường L, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; số CMND: 352338108; nghề nghiệp: Bảo vệ; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Võ Thị Linh Tr; em ruột có 01 người; tiền sự: chưa; tiền án: chưa; bị cáo tại ngoại.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

1. Lê Thanh S; sinh năm 1993 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số 13/1 đường HD, phường VTV, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

2. Lê Trƣờng An; sinh năm 1991 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số 61/3 đường HN, phường VTV, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

3. Lê Thanh G; sinh năm 1992 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số 13/1 đường HD, phường VTV, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

* Người làm chứng:

1. Danh S; sinh năm: 1993 (vắng mặt)

HKTT: Khu phố 5, thị trấn thứ 3, huyện An B, tỉnh Kiên Giang.

2. Bùi Văn P; sinh năm: 1987 (vắng mặt)

HKTT: Ấp 9 Chợ, xã Đông Hòa, huyện An M, Kiên Giang.

3. Lê Trƣờng K; sinh năm: 1993 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số 61/3 đường Hàm Nghi, phường VTV, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

4. Trần Đức M; sinh năm 1980 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số 24 đường PDP, phường VB, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

5. Nguyễn Văn Sg; sinh năm 1995 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số 91/7 đường N, phường VB, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

6. Huỳnh Thủ M; sinh năm 1999 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số 126 đường NK, phường VQ, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

NHẬN THẤY:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 00 giờ 30 ph t ngày 03/10/2016, tại quán bar “Rose Plus”, địa chỉ: số C17-45-50, đường Tôn Đức Thắng, khu phố 4, phường Vĩnh Lạc, thành phố R, do Lê Trường An và Lê Thanh Giàu có mâu thu n đánh nhau với nhân viên giữ xe c a quán bar là Hu nh Th M và nhân viên bảo vệ bar là Nguyễn Văn Sáng nên Danh S đã d ng 01 cây gậy d ba kh c, b ng kim loại, có độ dài khoảng 60 cm đánh vào v ng đ u c a Lê Trường An. Thấy Giàu và An đánh nhau, Lê Thanh S c m nón bảo hiểm xông vào đánh nhau với Sáng hỗ trợ cho Giàu và An. L c đó, nhóm bảo vệ bar g m B i Văn P, Nguyễn Hữu T, Nguyễn Chí C xông ra đánh nhóm An hỗ trợ cho Danh S nên An, Giàu và Lê Thanh S b chạy ra đường Tôn Đức Thắng về hướng C u 3/2. Danh S c ng với Nguyễn Hữu T, Nguyễn Chí Cường và B i Văn P đu i theo An; Danh S tiếp tục d ng cây gậy d ba kh c đánh tr ng vào v ng đ u c a An; T và Cường d ng tay quật An ngã xuống đất để cả nhóm đánh An. Sau đó, Nguyễn Hữu T, Nguyễn Chí Cường và B i Văn P đu i theo đánh Lê Thanh Giàu và Lê Thanh S, T d ng cây dao xếp đâm nhiều nhát tr ng vào v ng lưng, bụng và vai c a Giàu gây thương tích; còn Cường thì d ng chân, tay c ng với P d ng ghế đánh liên tiếp vào người c a Giàu và Thanh S. Bị vây đánh, Lê Thanh G và Lê Thanh S b chạy theo Lê Trường K đến ngã ba Nguyễn An Ninh - Lê Văn Hưu, thuộc phường Vĩnh Lạc, thành phố R; Danh S, T, C, P không đu i theo mà đi bộ về quán bar “Rose Plus”. Trên đường đi, Danh S đã ném b cây gậy d trên đường Tôn Đức Thắng và đi về phòng trọ ng , còn T, C, P về quán bar “Rose Plus”.

Khi nhóm c a G chạy đến c ng sau siêu thị Citimart, thấy Giàu ra nhiều máu, Thanh S c ng bị thương, Thanh S cùng K đưa G vào Bệnh viện đa khoa tỉnh Kiên Giang cấp cứu, còn An tự đến bác sĩ điều trị. Sau đó Lê Trường An, Lê Thanh G, Lê Thanh S làm đơn yêu c u giám định thương tích và yêu c u khởi tố hình sự đối với các bị cáo.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình nhƣ đã nêu trên.

* Vật chứng thu giữ:

- 01 cây roi điện màu đen, loại roi điện đèn pin c a Danh S giao nộp (đã xử lý trong bản án số 216/2017/HSST ngày 26/9/2017).

- 01 cây gậy d ba đoạn, b ng kim loại, có độ dài khoảng 60cm c a Danh S; 01 đoạn inox màu Sg trắng, độ dài khoảng 60cm c a Sg; 01 cây dao xếp, có chiều dài khoảng 15cm c a Nguyễn Hữu T; sau khi đánh nhau Danh S và Sg đã ném b cây gậy d và 01 đoạn inox, T khai nhận đã đem 01 cây dao xếp về phòng trọ tại số 334/16 Nguyễn Trung Trực, phường Vĩnh Lạc, thành phố R, Cơ quan điều tra tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được (B t lục số 72, 146, 147).

* Tại b n k t luận giám định pháp y v thương tích số: 599/KL-P ngày 17/11/2016 c a Trung T pháp y tỉnh Kiên Giang kết luận thương tích c a Lê Thanh S như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Sẹo ph n mềm v ng c phải.

- Sẹo sơ cứng v ng mào chậu trái.

2. Tỷ lệ t n thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại ở:

- Vùng c phải là: 1% (Một ph n trăm).

- Vùng mào chậu trái là: 6% (Sáu ph n trăm).

3. Tỷ lệ t n thương cơ thể do các thương tích trên gây nên hiện tại là: 07% (Bảy ph n trăm).

4. Vật gây thương tích: Vật tày có cạnh.

5. Về thẩm mỹ và chức năng bộ phận cơ thể: Thương tích không gây ảnh hưởng thẩm mỹ và không gây hạn chế chức năng bộ phận cơ thể (B t lục số: 65, 66, 67).

* Tại b n k t luận giám định pháp y v thương tích số: 600/KL-P ngày 17/11/2016 c a Trung T pháp y tỉnh Kiên Giang kết luận thương tích c a Lê Trƣờng An như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Sẹo xơ cứng v ng trán thái dương trái.

- Sẹo mềm v ng chẩm thái dương phải.

2. Tỷ lệ t n thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại ở:

- V ng trán thái dương trái là: 11% (Mười một ph n trăm).

- Vùng chẩm thái dương phải là: 1% (Một ph n trăm).

3. Tỷ lệ t n thương cơ thể do các thương tích trên gây nên hiện tại là: 12% (Mười hai ph n trăm).

4. Vật gây thương tích: Vật tày có cạnh.

5. Về thẩm mỹ và chức năng bộ phận cơ thể: Thương tích không gây ảnh hưởng thẩm mỹ và không gây hạn chế chức năng bộ phận cơ thể (B t lục số: 68, 69, 70).

* Tại b n k t luận giám định pháp y v thương tích số: 601/KL-P ngày 17/11/2016 c a Trung T pháp y tỉnh Kiên Giang kết luận thương tích c a Lê Thanh G như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Sẹo mềm v ng bả vai trái và lưng trái.

- Sẹo xơ cứng v ng bụng phải và sẹo m v ng ngực, bụng.

- T n thương màng ph i gây tràn dịch màng ph i trái. Hiện tại có vết xơ hóa nhu mô ph i phân th y (S6) trái.

2. Tỷ lệ t n thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại ở:

- Vùng bả vai trái là: 2% (Hai ph n trăm).

- V ng lưng trái là: 7% (Bảy ph n trăm).

- Vùng bụng phải là: 21% (Hai mươi mốt ph n trăm).

3. Tỷ lệ t n thương cơ thể do các thương tích trên gây nên hiện tại là: 28% (Hai mươi tám ph n trăm).

4. Vật gây thương tích: Vật sắc nhọn.

5. Về thẩm mỹ và chức năng bộ phận cơ thể: thương tích v ng bụng gây ảnh hưởng thẩm mỹ ít, các thương tích không gây hạn chế chức năng bộ phận cơ thể (B t lục số: 62, 63, 64).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những ngƣời bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì đối với 03 kết luận giám định pháp y về thƣơng tích nêu trên.

* V trách nhiệm dân sự:

- Bị hại Lê Thanh G yêu c u b i thường chi phí điều trị 13.170.000 đ ng, chi phí thu nhập thực tế bị mất và các chi phí khác 22.000.000 đ ng, t ng cộng là 35.170.000 đồng;

- Bị hại Lê Trường An yêu c u b i thường chi phí điều trị 4.100.000 đ ng, chi phí thu nhập thực tế bị mất và các chi phí khác 7.000.000 đ ng, t ng cộng là 11.100.000 đồng;

- Bị hại Lê Thanh S yêu c u b i thường chi phí điều trị 1.250.000 đ ng, chi phí thu nhập thực tế bị mất và các chi phí khác 6.000.000 đ ng, t ng cộng là 7.250.000 đồng.

Tổng cộng số tiền yêu cầu bồi thƣờng là: 53.520.000 đồng; trong đó:

- Lê Thanh G, Lê Trường An, Lê Thanh S yêu c u Danh S b i thường 15.000.000 đ ng, yêu c u Bùi Thanh P b i thường 10.000.000 đ ng; Danh S và P đã b i thường xong.

- Số tiền còn lại là 28.520.000 đ ng; Lê Thanh G, Lê Trường An, Lê Thanh S chỉ yêu c u Nguyễn Hữu T, Nguyễn Chí C b i thường 28.000.000 đ ng; T và C đ ng ý b i thường mỗi người 14.000.000 đ ng, cụ thể mỗi bị cáo phải b i thường cho An 3.000.000 đ ng, S 3.000.000 đ ng và G 8.000.000 đ ng. Hiện nay C chưa b i thường; T đã b i thường được 7.000.000 đ ng (Lê Thanh G nhận 4.000.000 đ ng, Lê Trường An nhận 1.500.000 đ ng, Lê Thanh S nhận 1.500.000 đ ng); còn lại 7.000.000 đ ng T chưa b i thường (B t lục số 71, 204, 205, 206).

* Bản cáo trạng số: 269/CT-KSĐT ngày 25 tháng 11 năm 2017 c a Viện kiểm sát nhân dân thành phố R đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu T về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 104 c a Bộ luật hình sự năm 1999 (vì thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999); truy tố bị cáo Nguyễn Chí C về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 245 c a Bộ luật hình sự năm 1999.

* Tại phiên tòa, những người bị hại Lê Thanh G, Lê Trường An, Lê Thanh S đều vắng mặt, tuy nhiên An và S có đơn xin vắng mặt và không có ý kiến gì về trách nhiệm hình sự đối với hai bị cáo; riêng về ph n dân sự An và S yêu c u hai bị cáo tiếp tục b i thường theo như th a thuận.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 3 Điều 7; điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đ i, b sung năm 2017; xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

- Áp dụng khoản 2 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đ i, b sung năm 2017; khoản 1 Điều 245 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đ i, b sung năm 2017; xử phạt bị cáo Nguyễn Chí C mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị công nhận sự tự nguyện th a thuận c a bị cáo Nguyễn Hữu T tiếp tục b i thường cho các bị hại Lê Thanh S, Lê Thanh G và Lê Trường An t ng số tiền 7.000.000 đ ng; bị cáo Nguyễn Chí C b i thường cho các bị hại Lê Thanh S, Lê Thanh G và Lê Trường An t ng số tiền 14.000.000 đ ng.

Sau khi nghe Kiểm sát viên phát biểu luận tội, các bị cáo đ ng ý với quan điểm truy tố c a đại diện Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận. Tại ph n nói lời sau c ng, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, nhận thức rõ hành vi sai trái c a mình, cảm thấy ăn năn, hối cải nên đề nghị Hội đ ng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan điều tra Công an thành phố R, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố R, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, th tục quy định c a Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định c a Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định c a Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội c a các bị cáo: Vào khoảng 00 giờ 30 ph t ngày 03/10/2016, tại quán bar “Rose Plus” ở số C17-45-50, đường Tôn Đức Thắng, khu phố 4, phường Vĩnh Lạc, thành phố R, do Lê Trường An và Lê Thanh Giàu có mâu thu n đánh nhau với nhân viên giữ xe c a quán bar là Hu nh Th M và nhân viên bảo vệ bar là Nguyễn Văn Sáng, nên Danh S đã d ng 01 cây gậy d ba kh c, b ng kim loại, có độ dài khoảng 60 cm đánh vào v ng đ u c a Lê Trường An. Thấy G và An đánh nhau, Lê Thanh S c m nón bảo hiểm đánh nhau với Sg hỗ trợ cho G và An. L c đó, nhóm bảo vệ g m B i Văn P, Nguyễn Hữu T, Nguyễn Chí C từ trong bar xông ra tham gia đánh và rượt đu i nhóm An hỗ trợ cho Danh S nên An, G và Lê Thanh S b chạy ra đường Tôn Đức Thắng, hướng c u 3/2. Danh S c ng với T, C và P đu i theo An; Danh S tiếp tục d ng cây gậy d ba kh c đánh tr ng v ng đ u c a An, còn T và C d ng tay quật An ngã xuống đất để cả nhóm đánh An. Sau đó T, C, P tiếp tục đu i theo đánh Lê Thanh G và Lê Thanh S; Nguyễn Hữu T đã d ng cây dao xếp có chiều dài khoảng 15cm đâm nhiều nhát tr ng vào vai và lưng bên trái, vùng bụng phải và ngực trái c a Giàu gây thương tích; còn Nguyễn Chí Cường thì d ng chân, tay c ng với B i Văn P d ng ghế đánh liên tiếp vào người c a Giàu và Thanh S. Qua giám định tỷ lệ t n thương cơ thể do thương tích gây nên c a Lê Trường An là 12%, c a Lê Thanh S là 7%, c a Lê Thanh G là 28%; t ng thương tích c a Lê Trường An, Lê Thanh S và Lê Thanh G là 47%.

Xét lời khai nhận tội c a các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với lời khai c a người bị hại, người làm chứng, kết luận giám định thương tích trên người bị hại cùng với các chứng cứ, tài liệu khác có trong h sơ vụ án và vật chứng đã thu giữ.

Theo hướng d n tại tiểu mục 3.1 mục 3 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 và điểm a tiểu mục 2.2 mục 2 Ph n I Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003, c a Hội đ ng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thì cây dao xếp có chiều dài khoảng 15cm, bị cáo T sử dụng đâm gây thương tích cho bị hại Lê Thanh G được xác định là loại hung khí nguy hiểm. Điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đ i, b sung năm 2017 về tội “Cố ý gây thương tích” quy định người nào cố ý gây thương tích hoặc gây t n hại cho sức kh e c a người khác mà tỷ lệ t n thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc trường hợp “…dùng hung khí nguy hiểm…” thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt t từ 06 tháng đến 03 năm; mặt khác, điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đ i, b sung năm 2017 quy định phạm tội “Gây thương tích, gây t n hại cho sức kh e c a người khác mà tỷ lệ t n thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 điều này”, thì “bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm”. Theo đó, hành vi c a bị cáo T dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho Lê Thanh G với tỷ lệ 28% đã đ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đ i, b sung năm 2017 đã viện d n nêu trên (vì thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đ i, b sung năm 2017).

Đối với bị cáo Nguyễn Chí C tham gia c ng nhóm bảo vệ c a quán bar đánh nhau với nhóm c a An, G, S tại trước quán bar và rượt đu i đánh nhau qua các tuyến đường giao thông gây náo động nơi công cộng, d n đến hậu quả gây thương tích cho nhiều người. Tại khoản 1 Điều 245 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định “Người nào gây rối trật tự công cộng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm”. Theo đó hành vi c a bị cáo C đã đ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điều luật đã viện d n nêu trên.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố R truy tố các bị cáo là có căn cứ, đ ng pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội c a các bị cáo:

Hành vi c a các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức kh e c a người khác một cách trái pháp luật; đ ng thời xâm phạm đến an ninh, trật tự công cộng, gây hoang mang và tạo dư luận bất bình tại nơi xảy ra vụ án, làm tăng thêm sự phức tạp về tình hình trật tự trị an tại khu vực trung T thành phố R, nơi có đông dân cư sinh sống và diễn ra nhiều hoạt động kinh doanh, giải trí. Bản thân các bị cáo khi thực hiện tội phạm có ý thức và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, các bị cáo đ khả năng nhận thức được hậu quả do hành vi phạm tội c a mình gây ra; tuy nhiên với ý thức xem thường pháp luật, chỉ xuất phát từ việc cự cãi qua lại giữa Hu nh Th M (là bảo vệ giữ xe c a quán bar “Rose Plus”) với người bị hại Lê Trường An, các bị cáo đã bất chấp hậu quả c ng với Danh S, B i Văn P thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý; trong đó bị cáo T đã d ng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho Lê Thanh Giàu với tỷ lệ 28%; còn Nguyễn Chí Cường thì tham gia rượt đu i và d ng chân, tay đánh liên tiếp vào người c a Giàu và Lê Thanh S gây mất trật tự, trị an nơi công cộng và làm t n hại sức kh e c a nhiều người. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội c a mình gây ra.

Từ những phân tích trên, sau khi nghị án Hội đ ng xét xử thống nhất xử phạt các bị cáo hình phạt t có thời hạn, giam giữ các bị cáo trong một thời gian nhất định để giáo dục, răn đe, cải tạo các bị cáo, qua đó đảm bảo được tính phòng ngừa chung; trong đó mức án c a bị cáo T cao hơn mức án c a bị cáo C là th a đáng.

Về tình tiết tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Cả hai bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra c ng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội c a mình, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sự việc xảy ra có một ph n lỗi từ phía những người bị hại; cả hai bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự. Ngoài ra, bị cáo T đã tích cực tác động gia đình thay bị cáo b i thường một ph n thiệt hại cho những người bị hại với số tiền 7.000.000 đ ng trên t ng số tiền 14.000.000 đ ng các bị hại yêu c u bị cáo T phải b i thường; hoàn cảnh gia đình bị cáo T có khó khăn nhất định, mẹ bị cáo đã chết, cha bị cáo bị bệnh tại biến hiện tại mất sức lao động; riêng bị cáo C phạm tội l n đ u và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

Do vậy, Hội đ ng xét xử thống nhất áp dụng điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 c a Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đ i, b sung năm 2017 làm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo T; áp dụng điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 c a Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đ i, b sung năm 2017 làm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo C khi lượng hình.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, những người bị hại Lê Thanh S, Lê Thanh G, Lê Trường An và bị cáo Nguyễn Hữu T, bị cáo Nguyễn Chí C đã tự nguyện th a thuận về ph n dân sự, cụ thể bị cáo T và bị cáo C đ ng ý mỗi bị cáo phải b i thường cho 03 người bị hại 14.000.000 đ ng; đến nay bị cáo C chưa b i thường; riêng bị cáo T đã b i thường được 7.000.000 đ ng, còn 7.000.000 đ ng chưa b i thường. Tại phiên tòa, những người bị hại Lê Thanh G, Lê Thanh S, Lê Trường An vắng mặt nhưng An và S có đơn xin vắng mặt và yêu c u các bị cáo tiếp tục b i thường số tiền còn lại; cả hai bị cáo đ ng ý tiếp tục b i thường theo yêu c u c a các bị hại nhưng hiện tại chưa có khả năng b i thường, do đó Hội đ ng xét xử quyết định xử buộc bị cáo T phải tiếp tục b i thường cho bị hại Lê Thanh G 4.000.000 đ ng, Lê Thanh S 1.500.000 đ ng, Lê Trường An 1.500.000 đ ng, t ng cộng số tiền bị cáo T phải b i thường cho các bị hại là 7.000.000 đ ng; buộc bị cáo C b i thường cho bị hại Lê Thanh G 8.000.000 đ ng, Lê Thanh S 3.000.000 đ ng, Lê Trường An 3.000.000 đ ng, t ng cộng số tiền bị cáo C phải b i thường cho các bị hại là 14.000.000 đ ng.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

* Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Cố ý gây thương tích”; bị cáo Nguyễn Chí C phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

- Áp dụng khoản 3 Điều 7; điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đ i, b sung năm 2017; xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 02 (Hai) năm tù. Thời hạn t tính kể từ ngày bị cáo bị bắt (ngày 24/8/2017).

- Áp dụng khoản 2 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đ i, b sung năm 2017; khoản 1 Điều 245 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đ i, b sung năm 2017; xử phạt bị cáo Nguyễn Chí C 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn t tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.

* Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 590 c a Bộ luật dân sự, xử:

- Buộc bị cáo Nguyễn Hữu T b i thường cho bị hại Lê Thanh G 4.000.000 đ ng (Bốn triệu đồng), b i thường cho bị hại Lê Thanh S 1.500.000 đ ng (Một triệu năm trăm nghìn đồng), b i thường cho bị hại Lê Trường An 1.500.000 đ ng (Một triệu năm trăm nghìn đồng). (T ng cộng bị cáo phải b i thường cho các bị hại số tiền 7.000.000 đ ng).

- Buộc bị cáo Nguyễn Chí C b i thường cho bị hại Lê Thanh G 8.000.000 đ ng (Tám triệu đồng), b i thường cho bị hại Lê Thanh S 3.000.000 đ ng (Ba triệu đồng), b i thường cho bị hại Lê Trường An 3.000.000 đ ng (Ba triệu đồng) (T ng cộng bị cáo phải b i thường cho các bị hại số tiền 14.000.000 đ ng).

Kể từ ngày người bị hại có đơn yêu c u thi hành án, nếu các bị cáo chưa thực hiện nghĩa vụ trả tiền nêu trên thì hàng tháng các bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; xử:

- Buộc bị cáo Nguyễn Hữu T phải chịu 200.000 đ ng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 350.000 đ ng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

- Buộc bị cáo Nguyễn Chí C phải chịu 200.000 đ ng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 700.000 đ ng (Bảy trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

* Quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 10/01/2018). Riêng những người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Tröôøng hôïp baûn aùn ñöôïc thi haønh theo qui ñònh taïi Ñieàu 2 Luaät thi haønh aùn daân söï thì ngöôøi ñöôïc thi haønh aùn daân söï, ngöôøi phaûi thi haønh aùn daân söï coù quyeàn thoûa thuaän thi haønh aùn, quyeàn yeâu caàu thi haønh aùn, töï nguyeän thi haønh aùn hoaëc bò cöôõng cheá thi haønh aùn theo qui ñònh taïi caùc ñieàu 6,7 vaø 9 Luaät thi haønh aùn daân söï; thôøi hieäu thi haønh aùn ñöôïc thöïc hieän theo qui ñònh taïi Ñieàu 30 Luaät thi haønh aùn daân söï.

Cỡ chữ