- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thanh T - Vi phạm quy định về điều khiển giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Thanh T phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương ti n giao th ng đư ng bộ”. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 202; các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, các Điều 47, 60 Bộ luật Hình sự 1999;
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 202 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2018/HSST Ngày: 18/01/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Quảng;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Du n, ng B i Đ ng Khoa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đ ng Khắc Cư ng - Là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 01 n m 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, xét xử sơ thẩm c ng khai vụ án hình sự thụ lý số: 119/2017/HSST, ngày 28 tháng 12 n m 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2018/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 01 n m 2018, đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Thanh T; tên gọi khác: Không; sinh n m 1986; tại: Bình Định; nơi ĐKHKTT và cư trú: Th n A, x L, huy n B, tỉnh Lâm Đồng; v n hóa: 12/12; nghề nghi p: Lái xe; quốc tịch: Vi t Nam; dân tộc: Kinh; t n giáo: Không; con ông Phạm S, sinh n m 1962; con bà Tr n Thị D, sinh n m 1965, cả hai đang sinh sống tại th n A, x L, huy n B, tỉnh Lâm Đồng; bị cáo là con lớn nhất trong gia đình có ba anh em; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, (Có m t).
Người bị hại:
1. Anh B i V n Th, (Đ chết);
Ngư i đại di n hợp pháp của anh Th: Ông Đoàn Quang D, sinh n m 1960, (Là bố vợ của anh Th - Có m t).
2. Anh Lê V n K, (Đ chết);
Ngư i đại di n hợp pháp của anh K: Ông Lê V n Th, sinh n m 1962, (Là bố đẻ của anh K - Có m t).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Nguyễn Hữu C, sinh n m 1985;
Địa chỉ: Số 36 đư ng Phạm Phú Thứ, phư ng B’Lao, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, (Có m t).
Người làm chứng:
1/ Anh K’T, sinh n m 1988;
Cư trú tại: Th n 4, x T, huy n D, tỉnh Lâm Đồng, (Vắng m t).
2/ Anh K’B, sinh n m 1991;
Cư trú tại: Th n K, x G, huy n D, tỉnh Lâm Đồng, (Vắng m t).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Thanh T có giấy phép lái xe t hạng C do Sở giao th ng vận tải Th phố Hồ Ch Minh cấp ngày 03/6/2016. Vào ngày 23/7/2017, T điều khiển xe t tải, biển số 49C-027.72 lưu th ng trên Quốc lộ 20 theo hướng từ Đà Lạt đi Th phố Hồ Chí Minh. Khoảng 19 gi c ng ngày khi xe chạy đến km 129+200 Quốc lộ 20, x Lộc Nga, Th phố Bảo Lộc, T điều khiển xe chạy ở ph n đư ng bên phải, vận tốc khoảng 50km/gi , có sử dụng đèn chiếu sáng ph a trước. Đang lưu th ng trên đư ng T quan sát thấy ph a trước, cách đ u xe của mình khoảng 50m có xe m t , biển số 49M9-8820 do anh B i V n Th điều khiển, chở phía sau là anh Lê V n K chạy ngược chiều. Thấy xe mô tô do anh Th điều khiển chạy lạng lách đánh võng, từ ph n đư ng bên trái sang ph n đư ng bên phải theo hướng Đà Lạt đi Thành phố Hồ Chí minh; sau đó xe lại chạy về bên trái. Khi hai xe cách nhau khoảng 10m thì xe mô tô của anh Th lại chạy sang ph n đư ng bên phải (ph n đư ng dành cho xe ô tô của T). Vì vậy T đ đạp thắng và đánh lái sang ph n đư ng bên trái để tránh, c ng lúc này anh Th lại điều khiển xe m t chạy về ph n đư ng bên phải, do khoảng cách quá g n nên đ u xe ô tô do T điều khiển đ t ng th ng vào xe mô tô do anh Th điều khiển. Hậu quả làm anh Th chết tại ch còn anh K chết trên đư ng đi cấp cứu.
Hi n trư ng vụ tai nạn giao th ng được xác định tại km 129 + 200, Quốc lộ 20 thuộc x Lộc Nga, thành phố Bảo Lộc; m t đư ng trải nhựa bê tông ph ng, hơi lên dốc và cong về bên trái theo hướng từ Đà Lạt đi Thành phố Hồ Ch Minh. M t đư ng rộng 11 mét, giữa đư ng có vạch sơn màu trắng đứt đoạn kẻ tim đư ng. Ph n đư ng bên phải theo hướng từ Đà Lạt đi Thành phố Hồ Ch Minh rộng 5,5m, được chia làm hai ph n bằng vạch sơn liền nét, trong đó ph n dành cho xe cơ giới rộng 3,3m còn làn đư ng trong c ng rộng 02m. Lấy mép bên phải theo hướng từ Đà Lạt đi Thành phố Hồ Ch Minh làm đư ng chuẩn, đo đến các vị tr , dấu vết trên hi n trư ng như sau:
Số 1 là vị tr điểm đ u vết phanh bánh đ i thứ nhất ph a sau bên trái của xe ô tô 49C-027.97 để lại trên m t đư ng, vết phanh rộng 47cm in đậm đều nét, kéo dài đến vị tr xe t 49C-027.97 đang đ là 8,9m; điểm đ u vết phanh cách mép đư ng chuẩn là 5,5m; cách vạch sơn dành cho ngư i đi bộ là 5,75m.
Số 2 là vị tr điểm đ u vết phanh bánh đ i thứ hai phía sau bên phải của xe ô tô 49C-027.97 để lại trên m t đư ng, vết phanh in từ m đến đậm nét, kéo dài đến vị trí xe ô tô 49C-027.97 đ tại hi n trư ng là 4,55m, chiều rộng là 0,47m; cách mép đư ng chuẩn là 4,2m, cách điểm đ u (số 1) là 5,1m.
Số 3 là vị tr điểm đ u vết vết cày xước đứt đoạn để lại trên m t đư ng sau tai nạn, kéo dài đến vị tr xe m t biển số 49M9-820 đ tại hi n trư ng là 6,23m. Điểm đ u vết cày xước nằm dưới g m xe t 49C-027.97, cách mép đư ng chuẩn là 6,65m, cách điểm đ u (số 1) là 18,7m.
Số 4 là vị tr xe t biển số 49C-027.72 đ tại hi n trư ng, đ u xe hướng về Thành phố Hồ Ch Minh, đu i xe hướng về Đà Lạt. Hình chiếu tâm đ u trục bánh trước bên phải của xe t xuống m t đư ng cách mép đư ng chuẩn là 6,2m; hình chiếu tâm đ u trục bánh sau bên phải của xe t xuống m t đư ng cách mép đư ng chuẩn là 4,8m;
Số 5 là vị tr nạn nhân thứ nhất nằm trên m t đư ng; đ u nạn nhân hướng về mép đư ng m tả, chân nạn nhân hướng vào mép đư ng bên trái, có vết máu k ch thước 06m x 0,4m, chảy về hướng Đà Lạt. Đ u nạn nhân cách mép đư ng chuẩn là 8,65m.
Số 6 là vị tr vết máu của nạn nhân thứ hai để lại trên m t đư ng, không rõ hình dạng, k ch thước là 2,1m x 0,4m; tâm của vết máu cách mép đư ng chuẩn là 10,3m.
Số 7 là vị tr xe m t biển số 49M9-8820 đ nghiêng sang bên phải trên m t đư ng, đ u xe hướng về mép đư ng phải, đu i xe quay về mép đư ng trái. Hình chiếu tâm trục bánh sau xe m t xuống m t đư ng cách mép đư ng chuẩn là 8,95m. Hình chiếu tâm trục bánh trước xe m t xuống m t đư ng cách mép đư ng chuẩn là 7,8m.
Theo kết luận giám định pháp y về tử thi số 252 và 253/2017/KLPY, ngày 31/7/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Lâm Đồng thì anh B i V n Th chết do nguyên nhân chấn thương sọ n o n ng do tai nạn giao th ng; anh Lê V n K chết do nguyên nhân đa chấn thương do tai nạn giao th ng.
Theo kết luận giám định số 1144/GĐ-PC54, ngày 23/8/2017 của Phòng k thuật hình sự C ng an tỉnh Lâm Đồng thì Giấy phép lái xe của Phạm Thanh T là loại giấy phép do Bộ Giao th ng vận tải cấp.
Tại bản Cáo trạng số 04/CT-VKS, ngày 26 tháng 12 n m 2017, Vi n kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đ truy tố bị cáo Phạm Thanh T về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương ti n giao th ng đư ng bộ”, theo điểm đ khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa h m nay đại di n Vi n kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 202, các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47 và Điều 60 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thanh T từ 18 đến 24 tháng tù cho hưởng án treo, th i gian thử thách từ 36 đến 48 tháng.
Bị cáo Phạm Thanh T khai nhận, đ thực hi n hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Vi n kiểm sát nêu, bị cáo kh ng thắc mắc, khiếu nại gì về nội dung Cáo trạng, bị cáo thấy đúng với tội của mình, xin được giảm nhẹ hình phạt. Đại di n ngư i bị hại (anh Thành) là ng Đoàn Quang D; đại di n cho ngư i bị hại (anh K) là ông Lê V n Th yêu c u bị cáo T bồi thư ng thêm cho m i gia đình bị hại số tiền 30.000.000đ để nu i các con nhỏ, bị cáo đồng ý bồi thư ng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Vào tối ngày 23/7/2017 bị cáo T đ điều khiển xe t tải, biển số 49C-027.72 lưu th ng trên Quốc lộ 20 theo hướng từ Thành phố Đà Lạt đi Thành phố Hồ Chí Minh; khi chạy đến địa phận x Lộc Nga, thành phố Bảo Lộc do bị cáo lấn đư ng nên đ t ng vào xe mô tô do anh B i V n Th điều khiển chở anh Lê V n K ngồi ph a sau chạy ngược chiều. Hậu quả làm anh B i V n Th chết tại ch còn anh Lê V n K chết trên đư ng đi cấp cứu. Đối chiếu l i khai bị cáo, l i khai đại di n ngư i bị hại, ngư i liên quan, vật chứng thu giữ, kết luận giám định; đ có đủ c n cứ kh ng định hành vi của bị cáo đ vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật giao th ng đư ng bộ, phạm vào tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương ti n giao th ng đư ng bộ”, theo điểm đ khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự 1999.
Xét t nh chất hành vi do bị cáo thực hi n là nguy hiểm cho x hội, thể hi n thái độ coi thư ng pháp luật, hành vi trên kh ng những xâm phạm đến t nh mạng, tài sản của ngư i cùng tham gia giao thông khác mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương, vì vậy c n phải lên cho bị cáo một hình phạt nghiêm khắc để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên cũng thấy rằng, bị cáo phạm tội l n đ u, thật thà khai báo; sau tai nạn đ tự nguy n bồi thư ng thi t hại, đại di n ngư i bị hại có đơn xin b i nại, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hơn nữa trong vụ tai nạn này thì anh B i V n Th là ngư i điều khiển xe m t cũng có một ph n l i, vì đ chạy xe m t lạng lách từ ph n đư ng bên phải sang ph n đư ng bên trái rồi đột ngột quay lại bên phải. Vì để tránh va chạm với xe m t của anh Th nên bị cáo đ đánh tay lái sang bên trái đư ng, nhưng ngay lúc đó anh Th lại điều khiển xe m t về ph n đư ng bên trái (theo hướng xe t của bị cáo) nên đ xảy ra tai nạn. Do đó c n áp dụng các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự 1999 để giảm nhẹ cho bị cáo một ph n. Xét bị cáo có vi c làm và nơi cư trú n định nên kh ng c n cách ly ra khỏi đ i sống x hội mà giao cho ch nh quyền địa phương giám sát giáo dục là ph hợp.
Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đ tạm giữ sau đó trả lại xe ô tô biển số 49C-027.72 c ng giấy t liên quan cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Hữu C; tạm giữ và trả lại xe m t biển số 49M9-8820 c ng giấy t liên quan cho ng Đoàn Quang D (bố vợ của anh Th). iêng Giấy phép lái xe t hạng C của bị cáo đang tạm giữ; c n cứ vào Điều 41 Bộ luật hình sự và Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, trả lại cho bị cáo.
Về trách nhi m dân sự: Quá trình điều tra bị cáo T cùng chủ xe t là anh Nguyễn Hữu C đ bồi thư ng cho gia đình anh Lê V n K số tiền 110.000.000đ; bồi thư ng cho gia đình anh B i V n Th số tiền 160.000.000đ. Tại phiên tòa ng Đoàn Quang D đại di n cho ngư i bị hại (Anh Th), ông Lê V n Th đại di n cho ngư i bị hại (Anh K) yêu c u bị cáo bồi thư ng thêm cho m i gia đình bị hại số tiền 30.000.000đ để nu i con các bị hại, bị cáo đồng ý bồi thư ng; xét thấy sự thỏa thuận trên là ph hợp nên c n chấp nhận.
Trong quá trình khởi tố điều tra, kiểm sát hoạt động điều tra và truy tố bị cáo ra trước tòa, Điều tra viên, Kiểm sát viên đ nghiêm túc thực hi n các hành vi, quyết định tố tụng, đảm bảo vi c giải quyết vụ án đúng pháp luật.
Về án ph : Buộc bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm và án ph dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Thanh T phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương ti n giao th ng đư ng bộ”. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 202; các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, các Điều 47, 60 Bộ luật Hình sự 1999;
Xử phạt bị cáo Phạm Thanh T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo, th i gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng, t nh từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Phạm Thanh T cho Ủy ban nhân dân xã , huyện B, tỉnh âm Đồng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo có sự thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành án được thực hiện theo qui định tại khoản 1 điều 69 uật thi hành án hình sự.
2. Về trách nhi m dân sự: Áp dụng các Điều 584, 591 Bộ luật Dân sự 2015, buộc bị cáo Phạm Thanh T phải bồi thư ng cho gia đình nạn nhân B i V n Th số tiền 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng), ( ng Đoàn Quang D nhận thay); bồi thư ng cho gia đình nạn nhân Lê V n K số tiền 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng), (ông Lê V n Th nhận thay).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án còn phải trả số tiền lãi, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất qui định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự.
Trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe ô tô mang tên Phạm Thanh T .
3. Về án ph : C n cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 qui định về án ph , l ph tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án ph hình sự sơ thẩm và 3.000.000đ (Ba triệu đồng) án ph dân sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, đại di n ngư i bị hại, ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo để yêu c u Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 uật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 uật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 uật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng - VKSND tỉnh Lâm Đồng - VKSND thành phố Bảo Lộc - Ngư i tham gia tố tụng - Chi cục T.H.A. - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Khắc Quảng |