vanban.org

Bản án 03/2018/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ngô Quyền, TP. Hải Phòng Tuyên án 30/01/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 03/2018/HS-ST Tuyên án 30/01/2018
Phúc thẩm Bản án 43/2018/HS-PT Tuyên án 31/05/2018

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
QUẬN!NGÔ!QUYỀN!
THÀNH!PHỐ!HẢI!PHÒNG!
–––––––––––––––
Bản án số:03/2018/HS-ST
Ngày 30-01-2018

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!!

TÒA!ÁN NHÂN!DÂN!QUẬN!NGÔ!QUYỀN,!THÀNH!PHỐ!HẢI!PHÒNG!

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Ông Nguyễn Huân

Các"Hội"thẩm"nhân"dân:"

Bà Vũ Thị Thu Hà

Bà Lý Thị Thiên Nga

- Thư ký phiên tòa:"Bà Nguyễn Thị Thu Phương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải

Phòng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:118/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2018/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Tiến D, sinh ngày 12 tháng 12 năm 1985 tại thành phố Hải Phòng.

Nơi cư trú: Số M đường L, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu B và bà Nguyễn Thị L; có vợ Nguyễn Thị Mỹ P và 01 con sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/9/2017 đến ngày 20/9/2017 bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Bị"hại:

+ Anh Phạm Thành N, sinh năm 1989; địa chỉ: Số R đường C, phường L, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

+ Anh Ngô Nhật Q, sinh năm 1985; địa chỉ: Số K đường Q, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

+ Anh Tô Phương N, sinh năm 1993; địa chỉ: Số R đường L, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 0 giờ 45 phút ngày 08/12/2014 các anh Phạm Thành N (sinh năm 1989, trú tại: Số B đường C, phường L, quận L, thành phố Hải Phòng), Ngô Nhật Q (sinh năm 1985, trú tại: 39/25 Đào Đô, Thượng Lý, Hồng Bàng, Hải Phòng), Tô Phương N (sinh năm: 1993, trú tại: Số 9 C41/57/30/313 Đà Nẵng, Vạn Mỹ, Ngô Quyền, Hải Phòng) ngồi uống rượu tại hồ An Biên, phường Lạch Tray, Ngô Quyền cùng với bạn gồm Nguyễn Lan Anh ( sinh năm 1991, trú tại: phường Hà Huy Tập, thành phố Vinh, Nghệ An), Nguyễn Phương Thúy ( sinh năm: 1989, trú tại 55/90 Nguyễn Tường Loan, phường Nghĩa Xá, Lê Chân, Hải Phòng) và Đỗ Thị Thảo (sinh năm: 1994, trú tại: Trực Thái, Trực Ninh, Nam Định). Trong lúc ngồi chơi Lan Anh gọi điện thoại cho bạn là Nguyễn Tiến D ( sinh năm : 1985, trú tại: 9/17/46 Lạch Tray, phường Hàng Kênh, Lê Chân, Hải Phòng) thì Dũng và Bùi Thành Luân đến ngồi uống rượu cùng cả nhóm. Trong lúc ngồi uống rượu, thấy Luân đội mũ có chữ Nike thì Nghị có nói “Đâm"vào"mặt"thằng"đội"mũ"Nike"sóng”. Thấy Nghị nói vậy khi Luân về đến chợ An Đà, Lạch Tray thì Luân phát hiện có 01 con dao bầu vất ở lề đường, Luân đã cầm con dao cùng với Dũng quay lại hồ An Biên để giải quyết mâu thuẫn với nhóm của Nghị. Khi đi đến tượng đài liệt sĩ gần hồ An Biên, Luân và Dũng gặp Tân “gà” là bạn xã hội của Luân (hiện chưa làm rõ được lai lịch, địa chỉ) đi cùng môt số đối tượng khác, Luân có nói với Tân “đánh nhau” rồi đi trước cùng Dũng vào chỗ nhóm của Nghị đang ngồi, còn Tân và một số đối tượng khác đi theo sau.

Khi thấy Luân cầm dao cùng Dũng cầm gạch quay lại đi về phía cả nhóm của Nghị đang ngồi thì Nghị, Quang, Nam đứng dậy dùng vỏ chai, cốc chén, chảo đáp Luân và Dũng. Luân liền cầm dao xông lên đâm một nhát vào vùng nách của Nam và chém vào tay Nghị. Cùng lúc này Dũng cầm gạch ném và xông vào đánh nhóm của Nam, Quang và Nghị. Sau đó Luân đuổi theo Quang. Khi đuổi kịp Quang, Luân dùng cán dao bầu bằng gỗ đập một nhát vào đầu Quang rồi bỏ đi, còn con dao Luân vứt lại ở hồ An Biên ở vị trí nào Luân không nhớ chính xác. Nam, Quang, Nghị được đưa đi cấp cứu ở bệnh viện.

Quá trình xảy ra xô sát có anh Bùi Ngọc Ánh (sinh năm 1988, trú tại: phường Vĩnh Niệm, Lê Chân, Hải Phòng) là anh trai Luân, khi đi qua hồ An Biên thấy em mình có trong nhóm xô sát, Ánh đi vào can ngăn thì bị một đối tượng (hiện chưa xác định được) chém một nhát vào tay nhưng Ánh từ chối giám định.

Tại kết luận giám định pháp y về thương tích số 630/2014/TgT ngày 08/01/2015 của Trung tâm pháp y Hải Phòng kết luận: Nạn nhân Phạm Thành N các vết thương tạm thời đã ổn định trong đó: các vết thương có kích thước lớn gồm 02 vết thương vai cánh tay trái, 01 vết thương dưới cánh tay trái, 01 vết thương mặt trước ngoài đùi trái và 01 vết thương đùi phải làm giảm 15% sức khỏe; Các vết thương có kích thước trung bình gồm mặt sau đùi trái, mạng sườn trái làm giảm 06 % sức khỏe; Các vết thương có kích thước nhỏ gồm vết thương cổ tay trái và ngón 2 đốt 1 bàn tay trái làm giảm 02% sức khỏe. Tổng hợp các thương tích trên theo phương pháp cộng lùi và làm tròn số thì nạn nhân bị giảm 22% sức khỏe. Các thương tích trên có đặc điểm do vật sắc và sắc nhọn tác động trực tiếp gây nên.

Tại kết luận giám định pháp y về thương tích số 631/2014/TgT ngày 08/01/2015 của Trung tâm pháp y Hải Phòng kết luận: Nạn nhân Ngô Nhật Q các vết thương tạm thời đã ổn định và chỉ là các vết thương phần mềm để lại sẹo có kích thước vừa làm giảm 07% sức khỏe. Các vết thương do vật sắc tác động trực tiếp gây nên.

Tại kết luận giám định pháp y về thương tích số 632/2014/TgT ngày 08/01/2015 của Trung tâm pháp y Hải Phòng kết luận: Nạn nhân Tô Phương N hiện tại vết thương vùng hõm nách trái thấu ngực gây tổn thương nhu mô phổi, tràn máu khoang màng phổi, còn xẹp một phần phổi trái làm giảm 27% sức khỏe. Thương tích do vật nhọn tác động trực tiếp gây nên.

Ngày 28/9/2017 Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã xử phạt bị cáo Bùi Thành Luân 30 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại khoản 2 Điều 104 của Bộ luật hình sự năm 1999. Việc bồi thường thiệt hại: Bị cáo Bùi Thành Luân đã bồi thường cho những người bị hại anh Tô Phương N, Phạm Thành N và Ngô Nhật Q số tiền 100.000.000đ và người bị hại không có yêu cầu bồi thường gì khác.

Sau khi phạm tội Nguyễn Tiến D bỏ trốn. Ngày 14/9/2017 Nguyễn Tiến D đã đến cơ quan Công an đầu thú.

Về vật chứng của vụ án: 01 dao bằng kim loại trên đường bỏ chạy Luân đã vất đi, hiện không thu hồi được.

Tại cáo trạng số 115/CT-VKS ngày 28/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Nguyễn Tiến D!về tội "Cố ý gây thương tích" theo khoản 2 (điểm a, c, i khoản 1) Điều 104 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và các tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án.

Người bị hại anh Tô Phương N, Phạm Thành N, anh Ngô Nhật Q đã được bị cáo bồi thường, không có yêu cầu gì khác và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tại phiên toà khẳng định quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 (điểm a, c, i khoản 1) Điều 104 của Bộ luật Hình sự năm 1999 là hoàn toàn có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Tuy nhiên do có sự thay đổi của chính sách pháp luật, hành vi Cố ý gây thương tích của bị cáo Dũng xảy ra trước ngày 01/01/2018 nhưng theo quy định tại điểm b Điều 2 Nghị quyết 41 ngày 29/6/2017 của Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự 2015 thực hiện những quy định có lợi cho người phạm tội nên bị cáo Dũng được áp dụng Điều 134 của Bộ luật Hình sự 2015 để xử lý về tội Cố ý gây thương tích với 02 tình tiết định khung quy định tại điểm b, đ khoản 2 là: “Gây thương tích cho 02 người trở lên mà tỉ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%” và “Gây thương tích cho sức khỏe người khác mà tỉ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30 % nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ a đến k khoản 1 (điểm a: dùng hung khí nguy hiểm; điểm i: có tích chất côn đồ). Bị cáo đã đến cơ quan Công an đầu thú; thành khẩn khai báo; ngoài ra những người bị hại đã được bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015 xử phạt bị cáo Dũng mức án từ 30 tháng đến 36 tháng tù.

Việc bồi thường thiệt hại: Bị cáo đã bồi thường cho những người bị hại Tô Phương N; Phạm Thành N, Ngô Nhật Q. Những người bị hại không có yêu cầu nào khác nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.

Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ tài liệu chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người bị hại.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên:

Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Việc xác định tội danh, điều luật áp dụng:

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản cáo trạng, lời khai của người bị hại và các tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Tiến D không trực tiếp dùng dao gây thương tích cho các bị hại nhưng bị cáo đã có hành vi tiếp nhận ý chí của Bùi Thành Luân, là người điểu khiển xe máy chở Luân đi tìm các bị hại, bị cáo dùng gạch ném người bị hại và dùng tay chân đánh anh Ngô Nhật Q. Hành vi của bị cáo đã tiếp sức tạo sức mạnh đông người cho Bùi Thành Luân cố ý dùng dao chém người bị hại anh Tô Phương N làm giảm 27% sức khỏe, anh Phạm Thành N làm giảm 22% sức khỏe và anh Ngô Nhật Q làm giảm 7% sức khỏe. Giữa bị cáo và người bị hại không có mâu thuẫn, không thù hằn nhưng các bị cáo vẫn cố ý gây thương tích cho cho ba người bị hại, vì vậy bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “dùng hung khí nguy hiểm, phạm tội đối với nhiều người và có tính chất côn đồ” quy định tại điểm a, c, i khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố đối với bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.

Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi Cố ý gây thương tích của bị cáo Dũng xảy ra trước ngày 01/01/2018 nhưng theo quy định tại điểm b Điều 2 Nghị quyết 41 ngày 29/6/2017 của Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự 2015 thực hiện những quy định có lợi cho người phạm tội nên bị cáo Dũng được áp dụng Điều 134 của Bộ luật Hình sự 2015 về tội Cố ý gây thương tích với 02 tình tiết định khung quy định tại điểm b, đ khoản 2 là: “Gây thương tích cho 02 người trở lên mà tỉ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%” và “Gây thương tích cho sức khỏe người khác mà tỉ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30 % nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ a đến k khoản 1 (điểm a: dùng hung khí nguy hiểm; điểm i: có tích chất côn đồ).

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền nhân thân, làm tổn hại sức khoẻ của con người, gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy cần bắt bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện giáo dục bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ: Cần xem xét giảm nhẹ một phần khi lượng hình do bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đã bồi thường cho những người bị hại và những người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; nhân thân bị cáo chưa tiền án tiền sự, lần đầu phạm tội, sau khi phạm tội đã ra đầu thú là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015.

[4] Việc bồi thường thiệt hại: Các người bị hại anh Tô Phương N Phạm Thành N, Ngô Nhật Q đã được bị cáo bồi thường chi phí điều trị thương tích không có yêu cầu nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Việc xử lý vật chứng: 01 dao bằng kim loại hiện không thu hồi được nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra trong vụ án này còn có đối tượng tên Tân và một số đối tượng đi cùng Tân gây thương tích cho người bị hại, hiện chưa xác minh được lai lịch nên cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm b, đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015.

Căn cứ khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 333; khoản 1 Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn!Tiến!D! phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn!Tiến!D! 30!(ba!mươi)!tháng tù. Trừ cho bị cáo 06 ngày bị tạm giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 29 tháng 24 ngày tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

-"Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Tiến D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo Nguyễn Tiến D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người bị hại anh Tô Phương N; anh Phạm Thành N và anh Ngô Nhật Q được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ