vanban.org

Bản án 03/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim D được ly hôn với anh Lưu Văn S trước pháp luật.

rong trường hợ bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án d n sự, người được thi hành án d n sự, người hải thi hành án d n sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Kim D và Lưu Văn S ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim D được ly hôn với anh Lưu Văn S trước pháp luật.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
T A ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN
NG PA
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 03/2018/HNGĐ-ST
Ngày 02/3/2018
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG H A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

T A ÁN NHÂN DÂN HUYỆN

NG PA , TỈNH GIA LAI

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

h m hán- h t a hiên t a: Ông Ksor Pep

ác i th m nh n d n:

1. Ông Trịnh Thanh Khiết;

2. Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm;

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quản Thu Hằng - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Hương Dịu - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 3 năm 2018 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 56/2017/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2017 về việc "Ly hôn", theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 01 năm 2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim D, sinh năm 1987

Địa chỉ: thôn Hưng Phú, xã Ia sươm, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai(Có mặt).

Bị đơn: Anh Lưu Văn S, sinh năm 1987

Địa chỉ: thôn Hưng Phú, xã Ia sươm, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai (Vắng mặt lần thứ hai).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Trong đơn khởi kiện và quá trình tố tụng c ng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim D trình bày:

-Về quan hệ hôn nh n: Chị D và anh Lưu Văn S tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 25/3/2010 tại Uỷ ban nhân dân xã Ia sươm, huyện Krông Pa. Thời gian đầu khi mới cưới nhau thì cuộc sống vợ chồng hạnh phúc nhưng vì chung sống với nhau qua thời gian dài không có con chung nên vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng ngày một lạnh nhạt, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị D xét thấy chị và anh S không còn tình cảm yêu thương vợ chồng như trước nếu có tiếp tục chung sống c ng không mang lại hạnh phúc cho nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy chị D làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lưu Văn S trước pháp luật.

-Về con: Chị D và anh Lưu Văn S không có con chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

-Về tài sản chung và thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Bị đơn anh Lưu Văn S mặc dù đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhiều lần và quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt, tuy nhiên tại bản tự khai ngày 30/11/2017, bị đơn anh lưu Văn s tự khai:

-Về quan hệ hôn nh n: về thời gian kết hôn của anh chị như chị Nguyễn Thị Kim D trình bày là đúng sự thật. Cuộc sống vợ chồng thời gian đầu rất hạnh phúc nhưng sống chung trong thời gian dài vợ chồng không có con chung nên tình cảm vợ chồng ngày một lạnh nhạt với nhau, mâu thuẫn phát sinh, vợ chồng không có chung quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra cãi vã, có tiếp tục sống chung c ng không thể mang lại hạnh phúc cho nhau. Hiện nay giữa anh và chị D đã sống ly thân. Chị D yêu cầu ly hôn với anh thì anh c ng đồng ý.

-Về con: anh và chị Nguyễn Thị Kim Du không có con chung.

-Về tài sản chung và thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản: anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Phát biểu ý kiến sau phần tranh luận, Kiểm sát viên cho rằng trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ đầy đủ các thủ tục tố tụng cần thiết theo quy định của pháp luật; tại phiên toà Hội đồng xét xử c ng đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng kể từ khi bắt đầu phiên toà cho đến trước khi nghị án; đương sự c ng có thái độ chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật tố tụng.

Nội dung vụ án thì Kiểm sát viên có quan điểm: Áp dụng Điều 28, Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và các Điều 9, 51, 56 và Điều 57 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm, xử:

-Về hôn nh n: Chị Nguyễn Thị Kim D được ly hôn với anh Lưu Văn S trước pháp luật.

-Về con chung: Chị Nguyễn Thị Kim D và anh Lưu Văn S không có con chung nên không đề cập đến.

-Về tài sản chung và thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản: Chị D không yêu cầu giải quyết nên không đề cập đến.

-Về án phí ly hôn: Căn cứ khoản 4, Điều 147 BLTTDS năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết : 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chị Nguyễn Thị Kim D phải chịu 300 000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA T A ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án về việc ly hôn quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toa án theo điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn anh Lưu Văn S như thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập…theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh S không đến Tòa án để thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng; ở giai đoạn xét xử vụ án Tòa án đã tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng anh Sang vẫn vắng mặt tại phiên tòa, do vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn là đúng với quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử chỉ căn cứ vào kết quả của việc hỏi nguyên đơn tại phiên tòa và xem xét các tài liệu chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án để quyết định, bị đơn phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về hôn nh n: Chị Nguyễn Thị Kim D và anh Lưu Văn S tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật tại Uỷ ban nhân dân xã Ia sươm, huyện Krông Pa vào ngày 25/3/2010 nên là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Trong quá trình chung sống chị D và anh S có phát sinh nhiều mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng rạn nứt nghiêm trọng nên chị D yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh S. Anh S mặc dù đã được Tòa án nhiều lần triệu tập đến Toà án để tham gia hòa giải, tham gia phiên toà nhưng anh S vắng mặt không lý do, điều này thể hiện thái độ bỏ mặc, không quan tâm đến việc tiếp tục duy trì cuộc sống vợ chồng với chị D. Hiện nay chị D và anh S đã sống ly thân. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị D và anh S là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần xem xét chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim D với anh Lưu Văn S là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Chị Dung và anh Sang không có con chung nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

[4] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị D và anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

[5] Về án hí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Chị Nguyễn Thị Kim D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng

V các trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 4, 5, 6; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

-Căn cứ khoản 1 Điều 9, các Điều 51, 53, 54, 56 và Điều 57 - Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Tuyên xử:

1.Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim D được ly hôn với anh Lưu Văn S trước pháp luật.

rong trường hợ bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án d n sự, người được thi hành án d n sự, người hải thi hành án d n sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án d n sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án d n sự.

2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngh n đồng) nhưng được trừ vào số tiền đã tạm nộp trước đây là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005938 ngày 15 tháng 11 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai. Chị D đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Chị Nguyễn Thị Kim D có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 02/3/2018), còn anh Lưu Văn S có quyền kháng cáo bản án kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú cuối cùng để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ